Luật Hôn nhân và gia đình 2014 dành một mục riêng, khoảng từ Điều 17 đến Điều 23, cho quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng: vợ chồng bình đẳng về mọi mặt trong gia đình; có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng chia sẻ việc nhà; tự thoả thuận nơi cư trú; tôn trọng danh dự, nhân phẩm và tạo điều kiện cho nhau phát triển. Tiếp đó là các quy định về đại diện giữa vợ và chồng.
Nhiều người nghĩ luật chỉ can thiệp vào hôn nhân khi có chuyện chia tài sản hay giành con. Thật ra, phần nhân thân là cái lõi của quan hệ vợ chồng theo luật, và nó có hệ quả cụ thể: vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nhân thân là căn cứ để toà cho ly hôn, là yếu tố khi chia tài sản, và trong một số trường hợp còn bị xử lý hành chính hoặc hình sự. Bài này giải thích luật nghĩ gì ở từng nghĩa vụ, và đâu là giới hạn của sự can thiệp.
Quyền nhân thân của vợ chồng khác quyền tài sản ở chỗ nào
Bộ luật Dân sự chia quyền dân sự làm hai nhóm: quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền nhân thân gắn liền với một con người, không định giá được bằng tiền và không chuyển giao cho người khác. Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng mang đúng tính chất đó: không ai bán được nghĩa vụ chung thuỷ, không ai uỷ quyền cho người khác chăm sóc vợ thay mình theo nghĩa pháp lý.
Từ tính chất này rút ra ba hệ quả. Một là quan hệ nhân thân chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân, tức từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày hôn nhân chấm dứt; nó không có "phần" để chia khi ly hôn. Hai là vợ chồng không thể thoả thuận bỏ các nghĩa vụ nhân thân cốt lõi; một văn bản kiểu "hai bên không ràng buộc chung thuỷ" không có giá trị. Ba là khi bị xâm phạm, cách bảo vệ chủ yếu không phải đòi tiền mà là yêu cầu chấm dứt hành vi, xin lỗi, và trong trường hợp nặng là ly hôn hoặc xử lý theo luật khác.
Phần tài sản của vợ chồng thì khác hẳn: có thể thoả thuận, có thể chia trong thời kỳ hôn nhân, có thể định giá. Hai phần này đi song song nhưng luật xử lý theo hai logic khác nhau, nên khi đọc một tranh chấp gia đình, việc đầu tiên là tách xem chuyện đang bàn là nhân thân hay tài sản.
Các nghĩa vụ nhân thân cốt lõi, giải thích bằng đời thường
Bình đẳng. Vợ chồng bình đẳng về mọi mặt trong gia đình và khi thực hiện quyền công dân. Hệ quả cụ thể: không có "chủ hộ quyết hết" theo nghĩa pháp lý, các việc lớn liên quan gia đình phải bàn với nhau. Chồng không có quyền đương nhiên quyết định nghề nghiệp, việc học hay việc đi làm xa của vợ, và ngược lại.
Thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Đây là những chữ nghe như lời khuyên đạo đức, nhưng trong luật chúng là chuẩn mực để đánh giá hành vi. Ngoại tình kéo dài, bỏ mặc người kia khi ốm nặng, xúc phạm thường xuyên là những biểu hiện vi phạm mà toà thường xem xét khi giải quyết ly hôn theo yêu cầu một bên.
Cùng chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình. Luật ghi nhận việc nhà là trách nhiệm chung. Điểm này nối thẳng với phần tài sản: khi chia tài sản chung, lao động của vợ hoặc chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập. Người ở nhà chăm con, lo việc nội trợ không bị coi là "không đóng góp".
Sống chung với nhau. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, trừ khi có thoả thuận khác hoặc vì yêu cầu nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia hoạt động xã hội hay lý do chính đáng khác. Ví dụ giả định: người chồng đi làm việc ở nước ngoài vài năm theo hợp đồng, người vợ ở lại chăm con ở Cần Thơ. Hai người sống xa nhau nhưng không vi phạm nghĩa vụ, vì có lý do chính đáng và sự đồng thuận.
Tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín và quyền tự do lựa chọn của nhau. Luật cấm vợ chồng xâm phạm danh dự, nhân phẩm của nhau, và yêu cầu tôn trọng quyền tự do tư tưởng, lựa chọn của người kia. Đăng ảnh riêng tư của người kia lên mạng để bêu riếu, kiểm soát điện thoại và cấm đoán giao tiếp xã hội một cách cực đoan đều chạm vào giới hạn này.
Giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển. Vợ chồng có nghĩa vụ tạo điều kiện cho nhau chọn nghề, học tập, nâng cao trình độ và tham gia hoạt động xã hội. Luật không bắt ai phải hy sinh sự nghiệp cho người kia.
Nơi cư trú: không phong tục nào là bắt buộc
Luật quy định việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng do hai người thoả thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán hay địa giới hành chính. Câu ngắn này bác bỏ một suy nghĩ phổ biến rằng cưới xong người vợ "phải về nhà chồng". Về mặt pháp lý, hai người có thể ở nhà bên nội, nhà bên ngoại, thuê nhà riêng, hoặc mỗi người ở một tỉnh nếu đã thống nhất.
Cũng vì do thoả thuận, khi hai người không thống nhất được nơi ở, luật không có quy tắc mặc định trao quyền cho một bên. Không ai có thể dựa vào luật để buộc người kia chuyển về quê mình. Mâu thuẫn kiểu này, nếu kéo dài và làm đời sống chung không thể tiếp tục, mới trở thành vấn đề toà xem xét khi có yêu cầu ly hôn.
Nơi cư trú theo luật hôn nhân và nơi đăng ký thường trú theo Luật Cư trú là hai chuyện liên quan nhưng không đồng nhất. Vợ chồng có thể đăng ký thường trú ở hai nơi khác nhau nếu đáp ứng điều kiện của luật cư trú. Ngược lại, cùng đăng ký một hộ khẩu cũ không chứng minh được hai người đang thực sự sống chung. Khi có tranh chấp, toà nhìn vào thực tế chung sống chứ không chỉ nhìn sổ sách.
Đại diện giữa vợ và chồng: khi nào người này thay người kia
Một nhóm quy định rất thực tế là đại diện: khi nào vợ hoặc chồng được nhân danh người kia ký kết, giao dịch. Luật cho phép đại diện theo uỷ quyền và theo pháp luật, cùng một số trường hợp riêng:
| Tình huống | Ai đại diện | Ghi chú |
|---|---|---|
| Vợ chồng uỷ quyền cho nhau | Người được uỷ quyền, trong phạm vi uỷ quyền | Uỷ quyền nên lập thành văn bản; việc lớn như bán nhà đất thường cần văn bản công chứng |
| Một bên bị toà tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự | Bên còn lại, nếu đủ điều kiện làm người giám hộ | Đại diện theo pháp luật, không cần uỷ quyền |
| Một bên bị toà tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự | Bên còn lại nếu được toà chỉ định làm người đại diện | Phạm vi đại diện theo quyết định của toà |
| Tài sản chung được đưa vào kinh doanh, một bên trực tiếp kinh doanh | Bên trực tiếp kinh doanh là người đại diện trong giao dịch kinh doanh đó | Trừ trường hợp luật yêu cầu cả hai đồng ý, như định đoạt bất động sản chung |
| Tài sản chung nhưng giấy chứng nhận chỉ ghi tên một người | Không đương nhiên là người đứng tên tự quyết | Vẫn áp dụng quy tắc đại diện và quy tắc định đoạt tài sản chung |
Đi kèm đại diện là trách nhiệm liên đới: vợ chồng cùng chịu trách nhiệm với giao dịch do một bên thực hiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, hoặc giao dịch khác phù hợp quy định về đại diện. Nói cách khác, người thứ ba ngay tình giao dịch đúng luật với một bên thì có thể yêu cầu cả hai vợ chồng thực hiện nghĩa vụ.
Vi phạm nghĩa vụ nhân thân thì luật xử lý thế nào
Luật không có cơ chế "cưỡng chế yêu thương", nhưng vi phạm nghĩa vụ nhân thân vẫn để lại hệ quả pháp lý rõ ràng. Có bốn tầng cần biết:
- Tầng gia đình và hoà giải ở cơ sở. Luật khuyến khích hoà giải mâu thuẫn vợ chồng tại cộng đồng, qua tổ hoà giải ở thôn, tổ dân phố. Đây là lối đi đầu tiên với phần lớn xích mích.
- Tầng hành chính. Một số hành vi như bạo lực gia đình ở mức chưa tới tội phạm, vi phạm chế độ một vợ một chồng chưa đến mức hình sự, có thể bị xử phạt hành chính theo văn bản hiện hành. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 còn có các biện pháp như cấm tiếp xúc để bảo vệ người bị bạo lực.
- Tầng ly hôn. Vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng là căn cứ để toà cho ly hôn theo yêu cầu một bên. Lỗi của mỗi bên còn là một yếu tố toà cân nhắc khi chia tài sản chung.
- Tầng hình sự. Bộ luật Hình sự có các tội như ngược đãi hoặc hành hạ thành viên gia đình, vi phạm chế độ một vợ một chồng, cùng các tội xâm phạm sức khoẻ, danh dự áp dụng chung. Yếu tố cấu thành và khung hình phạt cần đối chiếu điều luật cụ thể.
Điều đáng chú ý là các tầng này không loại trừ nhau. Một hành vi bạo lực có thể vừa bị xử phạt, vừa là căn cứ ly hôn, vừa ảnh hưởng tới việc toà giao con cho ai nuôi.
Những điều luật không can thiệp vào hôn nhân
Hiểu ranh giới cũng quan trọng như hiểu nghĩa vụ. Luật không quy định vợ chồng phải có con, phải sinh bao nhiêu con hay khi nào sinh; đó là quyền tự quyết của hai người. Luật cũng không bắt người vợ đổi sang họ của chồng; ở Việt Nam, họ của mỗi người giữ nguyên sau khi kết hôn, việc đổi họ tên thuộc chế định thay đổi họ, tên của Bộ luật Dân sự với điều kiện riêng.
Luật không phân công ai nấu cơm, ai đi làm, ai giữ tiền. Nó chỉ đặt nguyên tắc bình đẳng, chia sẻ và tôn trọng, còn cách tổ chức đời sống cụ thể là thoả thuận của mỗi gia đình. Một gia đình người vợ đi làm, người chồng ở nhà chăm con hoàn toàn phù hợp với luật nếu hai người thống nhất.
Cuối cùng, luật không cho phép người ngoài, kể cả cha mẹ hai bên, can thiệp vào quan hệ nhân thân của vợ chồng theo kiểu ép ly hôn, cản trở chung sống. Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn cũng bị cấm như cưỡng ép kết hôn. Cha mẹ có quyền khuyên bảo, không có quyền quyết định thay.
Câu hỏi thường gặp
Vợ chồng sống riêng mỗi người một nơi có vi phạm luật không?
Không nhất thiết. Luật cho phép vợ chồng không sống chung nếu có thoả thuận hoặc vì nghề nghiệp, công tác, học tập, hoạt động xã hội hay lý do chính đáng khác. Chỉ khi một bên bỏ đi không lý do, kéo dài và gây tổn hại thì mới có thể bị coi là vi phạm nghĩa vụ chung sống.
Chồng có quyền cấm vợ đi làm không?
Không. Vợ chồng bình đẳng và có nghĩa vụ tạo điều kiện cho nhau chọn nghề, làm việc, học tập. Việc gia đình sắp xếp ai đi làm là chuyện thoả thuận; một bên không có quyền dựa vào luật để cấm bên kia lao động hợp pháp.
Ngoại tình có bị phạt không hay chỉ là lý do ly hôn?
Ngoại tình trước hết là vi phạm nghĩa vụ chung thuỷ và thường được toà xem xét như một căn cứ ly hôn. Nếu đến mức chung sống như vợ chồng với người khác thì có thể bị xử phạt hành chính, và trường hợp nghiêm trọng có thể bị truy cứu về tội vi phạm chế độ một vợ một chồng theo điều kiện luật định.
Vợ có tự ký vay tiền mà chồng phải cùng trả không?
Nếu khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình như ăn ở, chữa bệnh, học hành của con, thì theo quy định về trách nhiệm liên đới, cả hai vợ chồng cùng chịu. Khoản vay vì việc riêng, không vì nhu cầu gia đình, thì thường là nghĩa vụ riêng của người vay.
Người vợ có phải đổi sang họ chồng sau khi cưới không?
Không. Pháp luật Việt Nam không có quy định buộc đổi họ khi kết hôn, mỗi người giữ họ tên của mình. Việc thay đổi họ tên chỉ được thực hiện theo các trường hợp mà Bộ luật Dân sự cho phép và qua thủ tục hộ tịch.
Khi một người bị lẫn, người kia có tự động thay mặt ký giấy tờ được không?
Chỉ khi toà án đã tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự và người còn lại đủ điều kiện làm người giám hộ thì mới là đại diện theo pháp luật. Chưa có quyết định của toà thì người kia không đương nhiên được ký thay, nhất là với giao dịch về nhà đất.