BoLuat.comBộ Luật
Luật Hôn nhân và gia đình

Nghĩa vụ chung và nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng: nợ nào cả hai cùng trả

Một người vay, khi nào cả hai vợ chồng phải trả? Luật phân biệt nghĩa vụ chung và nghĩa vụ riêng dựa vào mục đích của khoản nợ, không dựa vào ai ký tên.

A young woman seen from behind sitting at a small desk by a window in a rented room in Bien Hoa, adding up figures on a calculator beside blank receipts

Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, một khoản nợ là nghĩa vụ chung của vợ chồng khi nó phát sinh từ giao dịch hai người cùng thoả thuận, từ việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, từ việc sử dụng tài sản chung, hoặc từ một số trường hợp bồi thường mà luật buộc cả hai cùng chịu. Khoản nợ có trước khi cưới, nợ vì việc riêng không vì gia đình, hoặc phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của một người là nghĩa vụ riêng.

Tiêu chí quyết định không phải ai ký hợp đồng vay, mà khoản nợ phục vụ cho ai. Một người ký nhưng tiền dùng để chữa bệnh cho con thì cả hai cùng chịu; hai người cùng ký thì đương nhiên là nợ chung. Bài này giải thích logic phân loại đó, cách luật xử lý khi tài sản riêng không đủ trả nợ riêng, và điều gì xảy ra với các khoản nợ sau khi ly hôn.

Vì sao luật phải phân loại nợ của vợ chồng

Trong đời sống, tiền của gia đình thường không tách bạch: lương của hai người gộp lại, chi tiêu chung, đôi khi một người đứng ra vay cho cả nhà. Khi mọi chuyện êm ấm, không ai hỏi khoản nợ này là của ai. Câu hỏi chỉ xuất hiện khi chủ nợ đến đòi mà người vay không trả được, khi hai người ly hôn, hoặc khi một người qua đời.

Luật phải trả lời câu hỏi đó vì nó quyết định tài sản nào có thể bị dùng để trả nợ. Nếu là nghĩa vụ chung, chủ nợ có thể yêu cầu thanh toán từ tài sản chung, và khi không đủ thì từ tài sản riêng của cả hai. Nếu là nghĩa vụ riêng, người vay trả bằng tài sản riêng của mình, và chỉ khi không đủ thì mới đụng tới phần của người đó trong khối tài sản chung.

Cách phân loại này nối trực tiếp với chế định đại diện và trách nhiệm liên đới đã nói ở phần quan hệ nhân thân. Luật coi gia đình là một đơn vị kinh tế ở một mức nhất định: những gì một người làm vì gia đình thì cả hai cùng chịu trách nhiệm trước người thứ ba. Còn những gì một người làm vì bản thân thì người đó tự chịu.

Nghĩa vụ chung: sáu nguồn phát sinh

Luật liệt kê các trường hợp vợ chồng cùng có nghĩa vụ về tài sản. Mỗi trường hợp đi kèm một lý do và một ví dụ để dễ nhận diện:

Nguồn phát sinhLý do luật buộc cả hai cùng chịuVí dụ giả định
Giao dịch do vợ chồng cùng thoả thuận xác lậpHai người cùng thể hiện ý chíVợ chồng cùng ký hợp đồng vay ngân hàng mua căn hộ ở Hải Phòng
Nghĩa vụ bồi thường mà theo luật vợ chồng cùng chịuLuật quy định trách nhiệm chungThiệt hại do tài sản chung gây ra cho hàng xóm
Giao dịch do một bên thực hiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đìnhPhục vụ cả nhà dù chỉ một người kýNgười vợ vay tiền đóng học phí và viện phí cho con
Nghĩa vụ phát sinh từ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chungTài sản chung thì nghĩa vụ cũng chungPhí sửa chữa nhà chung, thuế đất của mảnh đất chung
Nghĩa vụ phát sinh từ việc dùng tài sản riêng để duy trì, phát triển tài sản chung hoặc tạo nguồn thu nhập chủ yếu của gia đìnhLợi ích cuối cùng thuộc về gia đìnhNgười chồng thế chấp nhà riêng vay vốn cho cửa hàng là nguồn sống của cả nhà
Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo Bộ luật Dân sự cha mẹ phải bồi thườngCha mẹ cùng có trách nhiệm với conCon chưa thành niên làm hỏng tài sản của người khác

Ngoài sáu nguồn trên, luật còn để ngỏ các nghĩa vụ chung khác do luật liên quan quy định. Điểm cần ghi nhớ là trường hợp thứ ba: nhu cầu thiết yếu gồm ăn, mặc, ở, học tập, khám chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình. Vượt ra ngoài phạm vi đó, giao dịch một mình của một người khó được coi là vì nhu cầu thiết yếu.

Nghĩa vụ riêng: bốn nhóm người vay tự chịu

Nghĩa vụ có trước khi kết hôn. Khoản vay mua xe năm còn độc thân, khoản nợ thẻ tín dụng từ trước khi cưới vẫn là nghĩa vụ riêng của người đó. Kết hôn không biến người kia thành người cùng vay.

Nghĩa vụ phát sinh từ tài sản riêng. Người vợ có căn nhà riêng cho thuê, phải sửa chữa, nộp thuế cho căn nhà đó: đây là nghĩa vụ riêng, trừ trường hợp dùng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc tạo nguồn thu nhập chủ yếu cho gia đình như đã nói ở bảng trên.

Nghĩa vụ từ giao dịch một bên tự xác lập, không vì nhu cầu gia đình. Ví dụ giả định: người chồng tự vay một khoản lớn để chơi đồ cổ cho sở thích riêng, không bàn với vợ, không dùng cho gia đình. Đây thường là nghĩa vụ riêng của người chồng. Nếu chủ nợ muốn đòi cả hai, họ phải cho thấy khoản tiền được dùng cho gia đình.

Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của một bên. Tiền phạt, tiền bồi thường do một người gây tai nạn khi cố ý vi phạm, khoản phải nộp vì phạm tội là nghĩa vụ riêng. Người kia không phải gánh hậu quả của hành vi trái luật mà mình không tham gia.

Tài sản riêng không đủ trả nợ riêng thì sao

Đây là chỗ nhiều người vợ, người chồng lo lắng nhất: chồng nợ riêng mà không có tài sản riêng, chủ nợ có lấy được nhà chung không? Câu trả lời của luật là có thể đụng tới, nhưng chỉ đúng phần của người có nghĩa vụ. Bộ luật Dân sự cho phép người có quyền yêu cầu xác định phần quyền sở hữu của người có nghĩa vụ trong khối tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ.

Logic ở đây là tài sản chung vợ chồng vốn là sở hữu chung hợp nhất, mỗi người có một phần dù chưa chia. Phần của người vợ không thể bị dùng trả nợ riêng của người chồng, nhưng phần của người chồng thì có. Khi thi hành án, cơ quan thi hành án có thể xác định phần của người phải thi hành án trong tài sản chung, và người còn lại có các quyền nhất định như quyền được ưu tiên mua phần đó.

Ví dụ giả định: căn nhà chung trị giá lớn, người chồng có khoản nợ riêng được toà tuyên phải trả. Không có tài sản riêng nào khác, chủ nợ có thể yêu cầu xác định phần của người chồng trong căn nhà. Người vợ không mất phần của mình, nhưng việc xử lý căn nhà có thể ảnh hưởng nơi ở của cả gia đình. Đây là lý do việc nhận diện sớm khoản nợ là chung hay riêng có ý nghĩa thực tế, và cũng là lý do luật vô hiệu những thoả thuận chia tài sản nhằm né nợ.

Nợ của vợ chồng sau khi ly hôn và khi một người mất

Hôn nhân chấm dứt không có nghĩa là các khoản nợ biến mất. Luật xử lý theo nguyên tắc bảo vệ người thứ ba:

  • Sau ly hôn, nghĩa vụ với người thứ ba vẫn còn. Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau ly hôn, trừ khi vợ chồng và người thứ ba có thoả thuận khác. Ngân hàng đã cho cả hai vay vẫn có quyền đòi cả hai.
  • Thoả thuận nội bộ không ràng buộc chủ nợ. Vợ chồng có thể thoả thuận khi ly hôn rằng người vợ trả toàn bộ khoản vay. Thoả thuận đó có giá trị giữa hai người, nhưng nếu chủ nợ không đồng ý thì họ vẫn có thể đòi người chồng; người chồng trả xong có quyền yêu cầu người vợ hoàn lại theo thoả thuận.
  • Toà chia nợ chung như chia tài sản chung. Khi giải quyết ly hôn mà có yêu cầu, toà xác định các khoản nợ chung và phân chia trách nhiệm giữa hai bên, đồng thời xem xét người thứ ba có liên quan.
  • Khi một người mất. Nghĩa vụ chung được thanh toán từ tài sản chung; phần tài sản của người mất là di sản, và nghĩa vụ riêng của người đó được trả từ di sản. Người thừa kế chỉ trả trong phạm vi di sản nhận được. Chi tiết về thừa kế nợ thuộc lĩnh vực thừa kế.

Nếu bạn đang đứng trước một khoản nợ lớn mà không rõ là chung hay riêng, nhất là khi đã có tranh chấp hoặc sắp ly hôn, nên hỏi luật sư trên AI Cố Vấn hoặc nhờ người làm nghề đọc hợp đồng và chứng cứ về mục đích sử dụng tiền trước khi ký bất cứ văn bản nào.

Chứng minh nợ chung hay nợ riêng dựa vào gì

Trên thực tế, tranh chấp hiếm khi nằm ở chỗ hiểu luật mà nằm ở chứng cứ. Một khoản vay một người ký, người đó nói dùng cho gia đình, người kia nói không biết gì. Toà sẽ nhìn vào các dấu hiệu: số tiền lớn hay nhỏ so với mức sống chung, thời điểm vay có trùng với khoản chi lớn của gia đình như mua nhà, sửa nhà, chữa bệnh không, tiền chuyển vào tài khoản nào, có tin nhắn hay người làm chứng về việc bàn bạc không.

Khoản vay nhỏ, đều đặn để chi tiêu sinh hoạt thường dễ được coi là vì nhu cầu thiết yếu. Khoản vay rất lớn, không bàn bạc, không thấy dấu vết dùng cho gia đình thì người cho vay muốn đòi cả hai sẽ khó hơn. Ngược lại, khi hai vợ chồng cùng ký hoặc có văn bản đồng ý của người kia, gần như không còn tranh luận về tính chất chung của khoản nợ.

Bài học ở mức nguyên lý: với khoản vay lớn, người cho vay thường đề nghị cả hai vợ chồng cùng ký để tránh rủi ro; còn với vợ chồng, giữ chứng từ về việc tiền đã được dùng vào đâu là cách bảo vệ mình tốt nhất khi có chuyện.

Câu hỏi thường gặp

Chồng vay tiền mà vợ không biết, vợ có phải trả không?

Phụ thuộc vào mục đích khoản vay. Nếu tiền được dùng để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc phát triển tài sản chung, đây có thể là nghĩa vụ chung dù vợ không ký. Nếu vay vì việc riêng không vì gia đình, đó là nghĩa vụ riêng của người chồng.

Nợ thẻ tín dụng mở trước khi cưới có trở thành nợ chung không?

Nghĩa vụ có trước khi kết hôn là nghĩa vụ riêng. Tuy nhiên nếu sau khi cưới, thẻ tiếp tục được dùng để chi tiêu cho gia đình, phần phát sinh mới có thể được xem xét như nghĩa vụ chung tuỳ chứng cứ về mục đích chi tiêu.

Ly hôn rồi ngân hàng có đòi được người không đứng tên vay không?

Nếu khoản vay là nghĩa vụ chung, quyền của ngân hàng không bị ảnh hưởng bởi việc ly hôn, trừ khi ngân hàng đồng ý thoả thuận khác. Thoả thuận phân chia nợ giữa hai vợ chồng chỉ ràng buộc nội bộ hai người.

Chồng phạm tội phải bồi thường, nhà chung có bị kê biên không?

Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của một bên là nghĩa vụ riêng. Khi tài sản riêng không đủ, phần của người đó trong tài sản chung có thể bị xác định để thi hành, còn phần của người kia vẫn được bảo vệ.

Vợ chồng có thể thoả thuận trước rằng ai vay người đó trả không?

Có thể thoả thuận trong quan hệ nội bộ, ví dụ trong thoả thuận chế độ tài sản. Nhưng với người thứ ba ngay tình, các quy định về trách nhiệm liên đới khi giao dịch vì nhu cầu thiết yếu vẫn áp dụng, và vợ chồng có nghĩa vụ cho người thứ ba biết về sắp xếp của mình.

Con chưa thành niên gây thiệt hại thì cha mẹ trả bằng tài sản nào?

Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà cha mẹ phải chịu theo Bộ luật Dân sự là nghĩa vụ chung của vợ chồng. Với con dưới 15 tuổi, cha mẹ bồi thường toàn bộ, tài sản cha mẹ không đủ thì mới lấy tài sản riêng của con bù vào; con từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi tự bồi thường bằng tài sản của mình trước, thiếu thì cha mẹ bù phần còn lại.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.