Theo Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, nam nữ muốn kết hôn phải đủ bốn điều kiện: nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi; việc kết hôn do hai người tự nguyện quyết định; không ai trong hai người bị mất năng lực hành vi dân sự; và việc kết hôn không thuộc các trường hợp luật cấm. Thêm vào đó, kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì mới có giá trị pháp lý.
Bốn điều kiện nghe đơn giản, nhưng mỗi điều kiện đều có một lý do riêng và một hậu quả riêng khi bị vi phạm. Bài này đi qua từng điều kiện theo cách luật nhìn nhận: luật muốn bảo vệ điều gì, ranh giới nằm ở đâu, và nếu đã lỡ đăng ký kết hôn khi thiếu điều kiện thì chuyện gì xảy ra. Phần thủ tục giấy tờ ở cơ quan hộ tịch là việc của bài thủ tục, không bàn ở đây.
Vì sao luật đặt điều kiện cho một việc riêng tư
Kết hôn là quyết định của hai người, nhưng hệ quả của nó lan rất xa: một gia đình mới được pháp luật thừa nhận, một khối tài sản chung hình thành, con sinh ra được suy đoán là con chung, vợ chồng trở thành người thừa kế của nhau ở hàng thứ nhất, và hàng loạt quan hệ với người thứ ba thay đổi theo. Vì những hệ quả đó gắn với cả xã hội chứ không riêng hai người, luật đặt ra một số điều kiện tối thiểu trước khi công nhận.
Có thể hình dung bốn điều kiện như bốn câu hỏi luật đặt ra. Hai người đã đủ trưởng thành để gánh trách nhiệm chưa? Quyết định này có thật là của chính họ không? Họ có còn khả năng nhận thức để tự quyết định không? Và cuộc hôn nhân này có đụng tới những giới hạn mà xã hội không chấp nhận, như một người đang có vợ có chồng hay hai người cùng dòng máu? Bốn câu hỏi tương ứng bốn điều kiện, và chỉ khi trả lời được cả bốn thì cơ quan hộ tịch mới đăng ký.
Ngoài bốn điều kiện về nội dung còn một điều kiện về hình thức: đăng ký. Luật nói rõ việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện; kết hôn không theo đúng quy định này thì không có giá trị pháp lý. Tổ chức đám cưới linh đình mà không đăng ký thì về mặt luật hai người vẫn chưa là vợ chồng.
Bốn điều kiện kết hôn, đọc từng chữ
Nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi. Chữ "từ đủ" nghĩa là đã qua ngày sinh nhật tương ứng, không phải "đang ở tuổi 20". Ví dụ giả định: một người nam sinh ngày 15 tháng 9 thì phải từ ngày 15 tháng 9 của năm tròn 20 tuổi mới đủ điều kiện. Lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi gọi là tảo hôn và bị cấm.
Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định. Tự nguyện nghĩa là ý chí thật của chính hai người, không bị ai ép, không bị lừa. Cha mẹ có thể khuyên, nhưng không có quyền quyết định thay và cũng không có quyền cản trở. Kết hôn vì bị đe doạ, bị uy hiếp tinh thần hay bị đánh tráo thông tin quan trọng đều làm hỏng điều kiện này.
Không bị mất năng lực hành vi dân sự. Mất năng lực hành vi dân sự là tình trạng do toà án tuyên bố khi một người không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình vì bệnh tâm thần hoặc bệnh khác. Luật chỉ chặn trường hợp "mất", không nhắc tới người bị hạn chế năng lực hay người có khó khăn trong nhận thức. Với những người này, điều kiện tự nguyện vẫn là thước đo chính.
Không thuộc các trường hợp cấm. Điều 8 dẫn sang danh sách các hành vi bị cấm ở Điều 5 của luật: kết hôn giả tạo, tảo hôn, cưỡng ép, lừa dối, cản trở kết hôn, người đang có vợ có chồng kết hôn với người khác, và kết hôn giữa những người có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ gia đình gần. Phần dưới đi kỹ từng nhóm.
Các trường hợp cấm kết hôn và lý do đằng sau
Danh sách cấm không ngẫu nhiên. Mỗi nhóm bảo vệ một giá trị cụ thể. Bảng dưới gom các trường hợp cấm liên quan trực tiếp tới việc kết hôn:
| Trường hợp bị cấm | Hiểu theo luật | Luật bảo vệ điều gì |
|---|---|---|
| Kết hôn giả tạo | Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch, hưởng chế độ ưu đãi hoặc mục đích khác mà không nhằm xây dựng gia đình | Bản chất của hôn nhân và sự trung thực với Nhà nước |
| Tảo hôn | Lấy vợ, lấy chồng khi một hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn | Trẻ em và người chưa đủ trưởng thành |
| Cưỡng ép, lừa dối, cản trở kết hôn | Ép người khác kết hôn trái ý muốn, làm người kia hiểu sai để đồng ý, hoặc ngăn cản người đủ điều kiện kết hôn | Quyền tự quyết của mỗi người |
| Người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác | Cả chiều ngược lại: người chưa có vợ chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có vợ, có chồng | Chế độ một vợ một chồng |
| Cùng dòng máu về trực hệ, có họ trong phạm vi ba đời | Trực hệ: người này sinh ra người kia kế tiếp nhau. Ba đời: cha mẹ là đời thứ nhất, anh chị em ruột là đời thứ hai, anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba | Sức khoẻ giống nòi và trật tự gia đình |
| Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, kể cả khi đã chấm dứt việc nuôi; cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng | Không phụ thuộc huyết thống, chỉ dựa trên vị trí trong gia đình | Thuần phong và vai trò của các thế hệ |
Điểm hay bị hỏi: hai người là anh chị em họ đời thứ tư trở đi thì luật không cấm. Còn con của anh chị em con cô con cậu (tức đời thứ tư tính từ ông bà chung) không nằm trong phạm vi ba đời. Khi cần chắc, cách đếm luôn bắt đầu từ người sinh ra chung gần nhất là đời thứ nhất.
Hôn nhân cùng giới: từ "cấm" sang "không thừa nhận"
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 từng liệt kê kết hôn giữa những người cùng giới tính vào nhóm bị cấm. Luật năm 2014 bỏ chữ cấm đó, nhưng thêm một quy định khác ở Điều 8: Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính. Hai cách viết cho hai hệ quả khác nhau, và đây là chỗ người đọc hay hiểu nhầm.
"Không cấm" có nghĩa là hai người cùng giới tổ chức lễ cưới, sống chung với nhau thì không bị coi là vi phạm và không bị xử phạt vì riêng việc đó. "Không thừa nhận" có nghĩa là cơ quan hộ tịch không đăng ký kết hôn cho họ, và giữa hai người không phát sinh quan hệ vợ chồng theo luật: không có tài sản chung vợ chồng, không là người thừa kế hàng thứ nhất của nhau, không có quyền đại diện cho nhau như vợ chồng.
Vì vậy, các cặp cùng giới muốn bảo vệ nhau về tài sản thường phải dùng công cụ của Bộ luật Dân sự: hợp đồng góp vốn, giấy uỷ quyền, đồng sở hữu tài sản ghi rõ phần của mỗi người, di chúc. Đây là cách nhìn ở mức nguyên lý; khi có tài sản lớn hoặc con nuôi, nên có người làm nghề đọc kỹ từng giấy tờ.
Thiếu điều kiện mà vẫn đăng ký: kết hôn trái pháp luật
Kết hôn trái pháp luật là gì. Luật định nghĩa đó là việc nam nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn. Khác với chung sống không đăng ký, ở đây có giấy đăng ký kết hôn thật, chỉ là giấy đó được cấp cho một cuộc hôn nhân không đủ điều kiện.
Ai được yêu cầu huỷ. Người bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn có quyền tự mình yêu cầu toà huỷ. Với các vi phạm khác như tảo hôn, kết hôn khi đang có vợ có chồng, kết hôn cận huyết, luật cho nhiều chủ thể khác cũng có quyền yêu cầu: vợ hoặc chồng hợp pháp của người đang có vợ có chồng, cha mẹ, con, người giám hộ, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, về trẻ em, hội liên hiệp phụ nữ và viện kiểm sát.
Toà có thể công nhận thay vì huỷ. Nếu đến lúc toà giải quyết mà cả hai bên đã đủ điều kiện kết hôn và cùng yêu cầu công nhận, toà công nhận quan hệ hôn nhân. Thời kỳ hôn nhân khi đó tính từ thời điểm hai bên đủ điều kiện, không tính từ ngày đăng ký ban đầu. Ví dụ giả định: hai người đăng ký khi người nữ mới 17 tuổi rưỡi, hai năm sau mới có người yêu cầu huỷ; nếu cả hai muốn tiếp tục, toà có thể công nhận và tính thời kỳ hôn nhân từ ngày người nữ đủ 18 tuổi.
Hậu quả khi bị huỷ. Hai bên phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng. Quyền lợi của con được giải quyết như khi cha mẹ ly hôn. Tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa hai bên được giải quyết theo cách áp dụng cho nam nữ chung sống không đăng ký: theo thoả thuận, không thoả thuận được thì theo Bộ luật Dân sự, có tính tới công sức của mỗi người.
Những hiểu lầm hay gặp về điều kiện kết hôn
Một số câu hỏi lặp đi lặp lại cho thấy người đọc thường gộp điều kiện kết hôn với phong tục hoặc với thủ tục. Dưới đây là các hiểu lầm phổ biến và cách luật nhìn:
- "Cha mẹ không đồng ý thì không cưới được." Luật không đặt điều kiện cha mẹ đồng ý với người đã đủ tuổi. Ngược lại, cản trở kết hôn là hành vi bị cấm. Sự đồng ý của gia đình là chuyện tình cảm, không phải điều kiện pháp lý.
- "Đã ly hôn thì phải chờ một thời gian mới được kết hôn lại." Luật hiện hành không đặt thời gian chờ. Chỉ cần bản án hoặc quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật là người đó không còn "đang có vợ, có chồng".
- "Ly hôn rồi quay lại thì không cần đăng ký nữa." Sai. Quan hệ vợ chồng đã chấm dứt từ khi bản án ly hôn có hiệu lực. Muốn là vợ chồng lại phải đăng ký kết hôn như lần đầu.
- "Ly hôn giả để vay vốn, để mua nhà ở xã hội rồi tái hôn." Ly hôn giả tạo cũng bị cấm như kết hôn giả tạo, và có thể kéo theo hệ quả với người thứ ba bị lừa.
- "Kết hôn với người nước ngoài thì chỉ cần đủ điều kiện theo luật Việt Nam." Với hôn nhân có yếu tố nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật nước mình về điều kiện kết hôn; nếu đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải đáp ứng điều kiện của luật Việt Nam.
Một số vi phạm về kết hôn còn có thể bị xử lý hành chính, và vài hành vi nặng như tổ chức tảo hôn hay vi phạm chế độ một vợ một chồng có tội danh riêng trong Bộ luật Hình sự. Mức xử lý cụ thể cần đối chiếu văn bản hiện hành.
Điều kiện kết hôn nối với các bộ luật khác ra sao
Điều kiện "không mất năng lực hành vi dân sự" lấy khái niệm trực tiếp từ Bộ luật Dân sự 2015. Người chỉ bị coi là mất năng lực hành vi khi có quyết định của toà án; một chẩn đoán y khoa hay lời kể của hàng xóm không đủ. Đây là ví dụ rõ về cách Luật Hôn nhân và gia đình dựa vào bộ luật nền để định nghĩa những khái niệm chung.
Điều kiện tự nguyện cũng có bóng dáng của chế định giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối, đe doạ trong Bộ luật Dân sự, nhưng luật hôn nhân xử lý riêng bằng thủ tục huỷ kết hôn trái pháp luật chứ không áp dụng máy móc quy định về giao dịch. Lý do là hôn nhân không phải một hợp đồng mua bán: hệ quả của nó đụng tới con cái và nhân thân, nên luật cho toà quyền công nhận hoặc huỷ tuỳ tình trạng thực tế.
Còn khi đã hiểu điều kiện, bước tiếp theo là thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan hộ tịch, nơi cán bộ kiểm tra các điều kiện này qua giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và giấy tờ tuỳ thân. Phần đó thuộc lĩnh vực hộ tịch, có những bài chuyên riêng.
Câu hỏi thường gặp
Nữ 18 tuổi và nam 19 tuổi có đăng ký kết hôn được không?
Không. Mỗi bên phải tự đủ tuổi của mình: nữ từ đủ 18 tuổi và nam từ đủ 20 tuổi. Người nam mới 19 tuổi thì chưa đủ điều kiện, dù người nữ đã đủ. Cưới mà chưa đủ tuổi là tảo hôn, một hành vi luật cấm.
Anh chị em họ có kết hôn với nhau được không?
Tuỳ khoảng cách. Anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba nên bị cấm kết hôn. Từ đời thứ tư trở đi, tức là con của những người anh chị em họ này, thì luật không cấm.
Kết hôn để được nhập quốc tịch nước ngoài có bị coi là giả tạo không?
Nếu mục đích duy nhất là xuất cảnh, nhập quốc tịch mà không nhằm xây dựng gia đình thì đó là kết hôn giả tạo và bị cấm. Còn hai người thật sự chung sống, xây dựng gia đình, rồi một bên được nhập quốc tịch theo vợ hoặc chồng thì không phải giả tạo.
Người bị bệnh tâm thần có được kết hôn không?
Luật chỉ cấm khi người đó đã bị toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Nếu chưa có quyết định đó, việc kết hôn vẫn phải bảo đảm người đó thật sự tự nguyện và hiểu được việc mình làm; cơ quan hộ tịch có thể từ chối nếu thấy rõ điều kiện tự nguyện không được bảo đảm.
Kết hôn khi bị lừa về tài sản, nghề nghiệp có được huỷ không?
Luật xác định lừa dối kết hôn là hành vi cố ý làm bên kia hiểu sai lệch dẫn tới đồng ý kết hôn, mà nếu không có hành vi đó thì người kia đã không đồng ý. Việc có đủ để huỷ hay không phụ thuộc chứng cứ và mức độ ảnh hưởng tới quyết định kết hôn, do toà xem xét cụ thể.
Đã kết hôn ở nước ngoài thì có cần đáp ứng điều kiện của luật Việt Nam không?
Với công dân Việt Nam, việc kết hôn ở nước ngoài muốn được ghi nhận vào sổ hộ tịch Việt Nam thì về nguyên tắc không được vi phạm các điều cấm của luật Việt Nam. Thủ tục ghi chú kết hôn và các trường hợp cụ thể thuộc lĩnh vực hộ tịch có yếu tố nước ngoài.