Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cho vợ chồng quyền chọn một trong hai chế độ tài sản: chế độ theo luật định, tức là để luật tự phân định tài sản chung và tài sản riêng; hoặc chế độ theo thoả thuận, tức là hai người tự quy định trước bằng văn bản lập trước khi kết hôn, có công chứng hoặc chứng thực. Phần lớn các cặp ở Việt Nam không lập thoả thuận, nên mặc nhiên sống theo chế độ luật định.
Dù chọn cách nào, một số nguyên tắc chung vẫn luôn áp dụng: vợ chồng bình đẳng về tài sản, lao động trong gia đình được coi như lao động có thu nhập, phải bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình, và nhà là nơi ở duy nhất được bảo vệ đặc biệt. Bài này giải thích logic của từng chế độ, phần không thể thoả thuận khác, và những hiểu lầm thường gặp khi người ta nghe chữ "tài sản chung".
Chế độ tài sản là gì và vì sao luật phải có nó
Chế độ tài sản của vợ chồng là tập hợp quy tắc trả lời ba câu hỏi: tài sản nào là của chung, tài sản nào là của riêng; ai được quyết định việc dùng, bán, cho, thế chấp từng loại; và ai phải trả các khoản nợ phát sinh. Không có bộ quy tắc này, mỗi lần mua một chiếc xe hay vay một khoản tiền, vợ chồng và người thứ ba đều không biết ai có quyền gì.
Luật đặt ra hai đường. Đường thứ nhất là chế độ theo luật định, giống một "hợp đồng mẫu" mà Nhà nước soạn sẵn cho tất cả các cặp không tự soạn. Đường thứ hai là chế độ theo thoả thuận, cho phép hai người tự viết hợp đồng của mình trong khuôn khổ luật cho phép. Cách thiết kế này có ở nhiều nước; Việt Nam chính thức ghi nhận chế độ thoả thuận từ Luật năm 2014, trước đó luật chỉ có một chế độ duy nhất.
Một điểm cần nhớ ngay: chế độ tài sản điều chỉnh quan hệ giữa vợ và chồng, nhưng hiệu quả của nó lan sang người thứ ba như ngân hàng, người mua nhà, chủ nợ. Vì vậy luật vừa cho tự do thoả thuận, vừa đặt các lằn ranh để bảo vệ những người ngoài cuộc giao dịch ngay tình với vợ chồng.
Bốn nguyên tắc áp dụng cho mọi cặp vợ chồng
Bình đẳng về tài sản chung. Vợ và chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, không phụ thuộc ai làm ra nhiều tiền hơn hay ai đứng tên giấy tờ.
Lao động trong gia đình ngang lao động có thu nhập. Người ở nhà chăm con, lo việc nhà không bị coi là "không đóng góp". Đây là nguyên tắc nền khiến tiền lương của một người vẫn rơi vào khối tài sản chung của cả hai.
Bảo đảm nhu cầu thiết yếu. Vợ chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình như ăn, mặc, ở, học tập, khám chữa bệnh. Nếu một bên không có hoặc không đủ tài sản chung để lo, bên kia có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng.
Nhà là nơi ở duy nhất được bảo vệ. Giao dịch liên quan đến căn nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thoả thuận của cả hai. Kể cả khi nhà là tài sản riêng của một người, người chủ vẫn phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng khi bán, cho thuê hay tặng cho. Ví dụ giả định: người chồng có căn nhà ở Huế được cha mẹ tặng riêng trước khi cưới, hai vợ chồng chỉ có căn nhà này để ở; người chồng không thể tự ý bán mà bỏ mặc vợ con không có chỗ ở.
Chế độ theo luật định: luật tự chia khối tài sản như thế nào
Trong chế độ luật định, tài sản chung gồm tài sản vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, sản xuất, kinh doanh, hoa lợi và lợi tức phát sinh từ tài sản riêng, cùng thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được thừa kế chung, tặng cho chung; và những gì hai người thoả thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn là tài sản chung, trừ khi được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc có được bằng giao dịch dùng tài sản riêng.
Tài sản riêng gồm tài sản có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được chia riêng, đồ dùng tư trang cá nhân và những gì luật khác quy định là riêng. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng cũng là tài sản riêng. Ví dụ giả định: người vợ bán mảnh đất có trước khi cưới để mua căn hộ, và chứng minh được dòng tiền, thì căn hộ vẫn là tài sản riêng của người vợ.
Chỗ hay bị bất ngờ là hoa lợi, lợi tức. Tiền cho thuê căn nhà riêng của chồng, phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, lại là tài sản chung, trừ khi hai người đã chia tài sản chung hoặc có thoả thuận khác. Logic của luật: căn nhà vẫn là của chồng, nhưng dòng thu nhập nó tạo ra trong lúc hai người là vợ chồng được coi như thu nhập chung của gia đình.
Cuối cùng là quy tắc suy đoán: tài sản đang có tranh chấp mà không có căn cứ chứng minh là tài sản riêng thì được coi là tài sản chung. Gánh nặng chứng minh vì thế nằm ở người khẳng định "đây là của riêng mình", nên giấy tờ về nguồn gốc là thứ cần giữ.
Ai được quyết định tài sản chung trong chế độ luật định
Biết tài sản là chung mới chỉ là nửa câu chuyện. Nửa còn lại là quyền quyết định. Luật phân biệt theo loại tài sản và mức độ quan trọng:
| Loại tài sản chung | Quy tắc định đoạt | Hệ quả nếu một bên tự làm |
|---|---|---|
| Bất động sản (nhà, đất) | Phải có thoả thuận bằng văn bản của cả hai vợ chồng | Bên không đồng ý có thể yêu cầu toà tuyên giao dịch vô hiệu |
| Động sản phải đăng ký quyền sở hữu (ô tô, xe máy, tàu thuyền…) | Phải có thoả thuận bằng văn bản của cả hai | Tương tự bất động sản, có tính tới người thứ ba ngay tình |
| Tài sản đang là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình | Phải có thoả thuận bằng văn bản của cả hai | Bảo vệ sinh kế chung, không phụ thuộc giá trị |
| Tài sản chung khác dùng hằng ngày | Một bên có thể tự thực hiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu | Bên kia cùng chịu trách nhiệm liên đới với giao dịch đó |
| Tiền trong tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán đứng tên một người | Với người thứ ba ngay tình, người đứng tên được coi là có quyền giao dịch | Tranh chấp giữa vợ chồng giải quyết nội bộ, không kéo người thứ ba ngay tình vào |
Luật còn yêu cầu tài sản chung phải đăng ký thì giấy chứng nhận ghi tên cả hai vợ chồng, trừ khi có thoả thuận khác. Sổ chỉ ghi tên một người không làm tài sản đó thành của riêng người ấy; nó chỉ làm việc chứng minh và giao dịch phức tạp hơn.
Chế độ theo thoả thuận: tự viết luật cho gia đình mình
Hình thức và thời điểm. Thoả thuận phải lập trước khi kết hôn, bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, và chế độ tài sản này được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn. Sau khi đã kết hôn, hai người có thể sửa đổi, bổ sung thoả thuận đã có theo cùng hình thức, nhưng không thể lập mới từ đầu một thoả thuận chế độ tài sản; con đường còn lại là chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Ba kiểu thoả thuận thường gặp. Văn bản hướng dẫn của Chính phủ cho phép vợ chồng chọn: có cả tài sản chung và tài sản riêng theo cách hai người định nghĩa; không có tài sản riêng, mọi thứ có trước và trong hôn nhân đều là chung; hoặc không có tài sản chung, ai có được gì là của người đó; cùng các phương án khác do hai người thoả thuận.
Nội dung cơ bản nên có. Tài sản nào là chung, nào là riêng; quyền và nghĩa vụ với từng loại và các giao dịch liên quan; tài sản nào dùng để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình; điều kiện, thủ tục và nguyên tắc chia khi chế độ tài sản chấm dứt.
Phần trống thì luật định lấp vào. Những vấn đề không được thoả thuận hoặc thoả thuận không rõ thì áp dụng các nguyên tắc chung và quy định tương ứng của chế độ luật định.
Những thoả thuận bị vô hiệu và giới hạn không vượt được
Tự do thoả thuận có lằn ranh. Thoả thuận về chế độ tài sản bị toà tuyên vô hiệu khi rơi vào một trong các trường hợp sau:
- Không đáp ứng điều kiện có hiệu lực của giao dịch theo Bộ luật Dân sự, ví dụ một bên bị lừa dối, bị đe doạ khi ký, hoặc không đúng hình thức công chứng, chứng thực.
- Vi phạm các nguyên tắc chung bắt buộc: bình đẳng, nghĩa vụ bảo đảm nhu cầu thiết yếu, bảo vệ nhà là nơi ở duy nhất, quy tắc giao dịch với người thứ ba ngay tình.
- Nội dung vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền lợi hợp pháp khác của cha mẹ, con và thành viên khác trong gia đình.
- Ví dụ giả định: một thoả thuận ghi "người vợ không có quyền gì với bất kỳ tài sản nào, kể cả nơi ở, trong suốt thời kỳ hôn nhân" có nguy cơ cao bị coi là vi phạm nguyên tắc bảo đảm chỗ ở và nhu cầu thiết yếu.
Thoả thuận vô hiệu toàn bộ thì vợ chồng quay về chế độ luật định; vô hiệu một phần thì phần còn lại vẫn có thể được áp dụng. Vợ chồng cũng có nghĩa vụ cho người thứ ba biết về chế độ tài sản của mình khi giao dịch; người thứ ba không được biết mà giao dịch ngay tình thì được pháp luật bảo vệ.
Chọn chế độ nào: những điều nên cân nhắc trước ngày cưới
Không có chế độ nào "tốt hơn" cho mọi cặp. Chế độ luật định phù hợp khi hai người có điều kiện tương đối giống nhau, không có tài sản lớn trước hôn nhân và muốn gắn kết tài chính theo cách truyền thống. Nó có ưu điểm là không cần chuẩn bị gì, nhưng nhược điểm là mọi tranh chấp sau này đều phải chứng minh nguồn gốc từng món.
Chế độ thoả thuận đáng cân nhắc khi một bên có tài sản lớn hoặc doanh nghiệp riêng trước khi cưới, có con riêng cần bảo vệ quyền lợi, hai người ở hai nước khác nhau, hoặc một bên làm nghề kinh doanh rủi ro cao. Văn bản rõ ràng giúp giảm tranh chấp, nhưng soạn sơ sài lại sinh ra tranh chấp mới về cách hiểu câu chữ.
Dù chọn cách nào, việc nói chuyện thẳng thắn về tiền bạc trước khi cưới có giá trị thực tế hơn mọi điều khoản. Với thoả thuận có tài sản lớn hay yếu tố nước ngoài, nên nhờ người làm nghề đọc bản dự thảo trước khi ra công chứng, vì phần không thoả thuận được hay thoả thuận vô hiệu sẽ quay về luật định theo cách hai người có thể không lường trước.
Câu hỏi thường gặp
Không lập thoả thuận gì trước khi cưới thì áp dụng chế độ nào?
Áp dụng chế độ tài sản theo luật định. Đây là trường hợp của phần lớn các cặp vợ chồng: tài sản chung và tài sản riêng được xác định theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, không cần ký kết gì thêm.
Đã kết hôn rồi có lập thoả thuận chế độ tài sản được không?
Không lập mới được, vì luật yêu cầu thoả thuận này phải lập trước khi kết hôn. Sau khi cưới, vợ chồng có thể sửa đổi, bổ sung thoả thuận đã có, hoặc nếu theo chế độ luật định thì có thể thoả thuận chia một phần hay toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Tiền lương của một người có phải là tài sản chung không?
Trong chế độ luật định, thu nhập do lao động trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung, dù chỉ một người đi làm. Lý do là luật coi lao động trong gia đình của người còn lại ngang với lao động có thu nhập.
Nhà là tài sản riêng của chồng, vợ có ngăn được việc bán nhà không?
Nếu đó là nơi ở duy nhất của vợ chồng, người chồng vẫn là chủ sở hữu nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng khi giao dịch. Nếu vợ chồng còn chỗ ở khác, người chồng có quyền tự định đoạt tài sản riêng theo quy định chung.
Thoả thuận "không có tài sản chung" có hợp pháp không?
Văn bản hướng dẫn cho phép vợ chồng thoả thuận không có tài sản chung, ai có được tài sản gì thì là của người đó. Tuy nhiên hai người vẫn phải tuân thủ các nguyên tắc chung như bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình và chỗ ở.
Ngân hàng có quan tâm đến chế độ tài sản của vợ chồng không?
Có. Khi cho vay hoặc nhận thế chấp, ngân hàng cần biết tài sản là chung hay riêng để xác định ai phải ký. Vợ chồng có nghĩa vụ cung cấp thông tin này; nếu che giấu mà người thứ ba giao dịch ngay tình thì người thứ ba được bảo vệ.