Luật Hôn nhân và gia đình 2014 xác định cha mẹ cho con bằng một quy tắc suy đoán: con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng; con sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ khi hôn nhân chấm dứt cũng được coi là do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân; con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn mà được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung. Cha hoặc mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được toà án xác định.
Quy tắc nghe có vẻ khô khan, nhưng nó là nền móng của cả phần quan hệ cha mẹ và con: ai có nghĩa vụ nuôi dưỡng, ai được quyền thừa kế, con mang họ ai, ai đại diện cho con. Bài này giải thích vì sao luật dùng suy đoán thay vì đòi chứng minh, quy tắc 300 ngày ở đâu ra, khi nào suy đoán bị lật lại, và cha mẹ, con có những quyền và nghĩa vụ cơ bản nào với nhau.
Vì sao luật dùng suy đoán thay vì đòi chứng minh
Nếu mỗi đứa trẻ sinh ra đều phải chứng minh ai là cha thì cơ quan hộ tịch sẽ không thể làm việc, và đứa trẻ sẽ sống trong tình trạng pháp lý lơ lửng. Luật giải quyết bằng một suy đoán dựa trên điều bình thường nhất của đời sống: người vợ mang thai trong thời kỳ hôn nhân thì người chồng là cha. Suy đoán này đúng với tuyệt đại đa số gia đình, và nó cho phép đăng ký khai sinh ngay mà không cần bất kỳ chứng cứ sinh học nào.
Điểm then chốt là suy đoán chứ không phải kết luận tuyệt đối. Nó đúng cho tới khi có người chứng minh điều ngược lại theo đúng thủ tục. Cách thiết kế này bảo vệ trước hết lợi ích của đứa trẻ: con luôn có một người cha về mặt pháp lý ngay từ khi sinh ra, có người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và có quyền thừa kế, thay vì phải chờ một cuộc tranh chấp kết thúc.
Suy đoán cũng phản ánh nguyên tắc rằng con sinh ra không phụ thuộc tình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau với cha mẹ. Quy tắc suy đoán chỉ là công cụ để xác định ai là cha mẹ; một khi đã xác định, con trong hay ngoài giá thú đều bình đẳng.
Các trường hợp được suy đoán là con chung
Luật nêu ba tình huống. Bảng dưới đọc từng tình huống bằng ví dụ giả định:
| Tình huống | Luật xác định | Ví dụ giả định |
|---|---|---|
| Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân | Là con chung của vợ chồng | Hai người đăng ký kết hôn năm trước, năm sau sinh con: người chồng là cha |
| Con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân | Là con chung, dù lúc sinh hôn nhân đã chấm dứt | Người vợ có thai, sau đó người chồng qua đời, đứa trẻ sinh ra sau: vẫn là con chung |
| Con sinh ra trong 300 ngày kể từ khi hôn nhân chấm dứt | Được coi là do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân, tức là con chung | Bản án ly hôn có hiệu lực, 7 tháng sau người vợ sinh con: suy đoán người chồng cũ là cha |
| Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn | Là con chung nếu được cha mẹ thừa nhận | Hai người có con rồi mới đăng ký kết hôn, cả hai thừa nhận: con chung |
Con số 300 ngày gần với thời gian mang thai dài nhất thường gặp. Luật chọn một mốc cố định để tránh tranh cãi y khoa trong từng trường hợp. Ngoài mốc đó, suy đoán không còn áp dụng; ví dụ con sinh ra 12 tháng sau ly hôn thì không đương nhiên là con của người chồng cũ.
Khi suy đoán bị lật lại
Cha hoặc mẹ không thừa nhận con. Luật yêu cầu người không thừa nhận phải có chứng cứ và phải được toà án xác định. Một lời phủ nhận suông, kể cả ghi trong đơn ly hôn, không đủ để xoá quan hệ cha con đã được suy đoán.
Người không được nhận là cha, mẹ muốn xác định con mình. Một người cho rằng mình là cha đẻ của đứa trẻ đang được suy đoán là con của người khác có thể yêu cầu toà án xác định. Đây là tình huống phức tạp vì đụng tới quan hệ đã được ghi nhận của một gia đình khác.
Người được nhận là cha, mẹ muốn xác định người đó không phải con mình. Ví dụ giả định: người chồng có căn cứ cho rằng đứa trẻ sinh trong thời kỳ hôn nhân không phải con mình. Người đó phải yêu cầu toà án và đưa ra chứng cứ, thường là kết quả giám định gen; toà mới có quyền kết luận.
Thẩm quyền: hộ tịch hay toà án. Khi các bên đồng thuận, không có tranh chấp, việc nhận cha, mẹ, con được giải quyết tại cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi có tranh chấp, hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết, thì thuộc thẩm quyền của toà án. Thủ tục cụ thể thuộc lĩnh vực hộ tịch và tố tụng.
Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thay đổi gì
Y học cho phép sinh con bằng thụ tinh trong ống nghiệm, dùng tinh trùng hay noãn của người cho. Quy tắc suy đoán dựa trên việc mang thai tự nhiên phải được điều chỉnh. Luật quy định vợ chồng sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha mẹ vẫn theo quy tắc suy đoán con chung: con sinh ra là con chung của vợ chồng, kể cả khi dùng tinh trùng của người cho.
Người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người đó là mẹ của đứa trẻ. Còn người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi không có quyền và nghĩa vụ làm cha mẹ với đứa trẻ được sinh ra. Logic ở đây là luật dựa vào ý chí làm cha mẹ và thủ tục hợp pháp, không dựa thuần tuý vào huyết thống.
Ví dụ giả định: một cặp vợ chồng dùng tinh trùng của người cho ẩn danh tại cơ sở y tế được phép. Người chồng là cha hợp pháp của đứa trẻ, không thể sau này lấy lý do không cùng huyết thống để phủ nhận. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là trường hợp đặc biệt hơn nữa, có quy định riêng.
Quyền và nghĩa vụ cơ bản giữa cha mẹ và con
Khi quan hệ cha mẹ con đã được xác định, luật đặt ra một loạt quyền và nghĩa vụ hai chiều. Ở mức nguyên lý, cần nhớ những điểm sau:
- Cha mẹ ngang nhau. Cha và mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Không có thứ bậc kiểu "cha quyết định chính".
- Nuôi dưỡng, giáo dục, bảo vệ. Cha mẹ phải thương yêu, tôn trọng ý kiến của con, chăm lo việc học, trông nom, nuôi dưỡng con chưa thành niên và con đã thành niên không thể tự lo cho mình.
- Không phân biệt đối xử. Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con trên cơ sở giới hay tình trạng hôn nhân của cha mẹ, không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, không được xúi giục con làm việc trái pháp luật.
- Đại diện và tài sản của con. Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên. Con có quyền có tài sản riêng; con từ đủ 15 tuổi có thể tự quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý.
- Chiều ngược lại. Con có bổn phận kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, khuyết tật. Gia đình nhiều con thì các con cùng nhau chăm sóc.
Khi cha hoặc mẹ vi phạm nghiêm trọng, như cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm của con, phá tán tài sản của con hay xúi giục con làm việc trái pháp luật, toà án có thể hạn chế quyền của người đó đối với con trong một thời hạn, như không cho trông nom, quản lý tài sản hay đại diện cho con. Hạn chế quyền không xoá nghĩa vụ cấp dưỡng.
Những hệ quả thực tế của việc xác định cha mẹ con
Việc xác định cha mẹ con không chỉ có ý nghĩa tình cảm. Nó quyết định ai ghi tên trong giấy khai sinh và con mang họ ai theo thoả thuận của cha mẹ; ai có nghĩa vụ nuôi dưỡng và cấp dưỡng; con có ở hàng thừa kế thứ nhất của người cha, người mẹ hay không; ai là người đại diện theo pháp luật khi con ký giấy tờ, đi học, chữa bệnh.
Vì hệ quả rộng như vậy, một quyết định xác định hoặc phủ nhận quan hệ cha con kéo theo hàng loạt thay đổi: cải chính hộ tịch, xem lại nghĩa vụ cấp dưỡng đã thực hiện, và có thể ảnh hưởng tới việc chia di sản nếu người cha đã mất. Con đã thành niên có quyền nhận cha mà không cần mẹ đồng ý, nhận mẹ mà không cần cha đồng ý; người đang có vợ, có chồng nhận con cũng không cần người kia đồng ý.
Ví dụ giả định: một người con ở Gia Lai đã 30 tuổi mới biết người cha ghi trên giấy khai sinh không phải cha ruột. Việc phát hiện này không tự động thay đổi gì: giấy khai sinh vẫn có giá trị cho tới khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Nếu người cha trên giấy và người con đều không muốn thay đổi, luật không buộc ai phải làm thủ tục. Ngược lại, nếu người con muốn nhận cha ruột, việc đó kéo theo cả câu hỏi về họ tên, cấp dưỡng và thừa kế, nên cần cân nhắc toàn bộ hệ quả trước khi nộp yêu cầu.
Đây là vùng luật mà cảm xúc rất lớn và hệ quả kéo dài nhiều thế hệ. Với những tình huống có tranh chấp, có yếu tố nước ngoài hoặc liên quan di sản, người trong cuộc nên có người làm nghề hỗ trợ ngay từ đầu, thay vì tự soạn đơn theo các mẫu trôi nổi.
Câu hỏi thường gặp
Ly hôn rồi mới sinh con thì đứa trẻ là con của ai?
Nếu con sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ ngày bản án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực, luật coi là người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân, tức suy đoán là con chung với người chồng cũ. Ai muốn phủ nhận phải có chứng cứ và được toà án xác định.
Con sinh ra trước khi đăng ký kết hôn có phải con chung không?
Có, nếu cha mẹ thừa nhận đứa trẻ là con chung. Nếu một bên không thừa nhận, việc xác định cha, mẹ cho con được giải quyết theo thủ tục nhận cha, mẹ, con tại cơ quan hộ tịch khi không có tranh chấp hoặc tại toà án khi có tranh chấp.
Người chồng nghi con không phải của mình thì làm gì?
Người chồng phải yêu cầu toà án xác định người con không phải con mình và cung cấp chứng cứ, thường là kết quả giám định gen. Tự ý không làm giấy khai sinh, không nuôi dưỡng không làm mất quan hệ cha con theo luật.
Người cho tinh trùng có quyền nhận con không?
Không. Luật quy định người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi không có quyền và nghĩa vụ làm cha mẹ đối với đứa trẻ được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Cha mẹ hợp pháp là cặp vợ chồng hoặc người phụ nữ độc thân đã thực hiện kỹ thuật này.
Con ngoài giá thú có được thừa kế như con trong giá thú không?
Có. Con sinh ra không phụ thuộc tình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ. Điều kiện là quan hệ cha mẹ con phải được xác định, qua thủ tục nhận cha, mẹ, con hoặc quyết định của toà án.
Cha mẹ có được tự ý bán tài sản riêng của con chưa thành niên không?
Cha mẹ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi và đại diện cho con, nhưng việc định đoạt phải vì lợi ích của con. Với con từ đủ 15 tuổi, việc định đoạt tài sản có giá trị lớn cần tính tới ý kiến của con theo quy định. Phá tán tài sản của con là căn cứ để toà hạn chế quyền của cha mẹ.