Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và cấm tuyệt đối mang thai hộ vì mục đích thương mại. Mang thai hộ nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì lợi ích kinh tế, mang thai giúp một cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con kể cả khi đã dùng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản: noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng được thụ tinh trong ống nghiệm rồi cấy vào tử cung người mang thai hộ. Đứa trẻ sinh ra là con chung của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ ngay từ thời điểm được sinh ra.
Đây là một trong những điểm mới lớn nhất của luật năm 2014 so với luật năm 2000, và cũng là chế định có điều kiện chặt nhất trong cả bộ luật gia đình. Bài này giải thích luật nghĩ gì khi đặt từng điều kiện, thoả thuận giữa các bên phải có gì, quyền và nghĩa vụ của từng bên, và vì sao luật không cho ai đổi ý sau khi đứa trẻ ra đời. Phần thủ tục ở cơ sở y tế và khai sinh cho trẻ thuộc các bài thủ tục y tế, hộ tịch.
Mang thai hộ là gì theo cách luật định nghĩa
Luật phân biệt rất rõ hai loại. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc làm tự nguyện, không vì mục đích thương mại, giúp một cặp vợ chồng hiếm muộn có con. Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người mang thai cho người khác để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác. Loại thứ nhất được cho phép có điều kiện; loại thứ hai nằm trong danh sách hành vi bị cấm ngay ở phần đầu của luật.
Điểm kỹ thuật quan trọng nằm ở định nghĩa: phôi được tạo từ noãn của chính người vợ và tinh trùng của chính người chồng, sau đó cấy vào tử cung của người mang thai hộ. Người mang thai hộ không cho trứng. Vì vậy, về mặt di truyền, đứa trẻ là con của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ; người mang thai hộ chỉ nuôi dưỡng bào thai trong cơ thể mình. Cách định nghĩa này giải thích vì sao luật xác định cha mẹ theo cặp vợ chồng nhờ, chứ không theo người sinh.
Điều kiện với từng bên và lý do luật đặt ra
Luật đặt điều kiện cho cả ba phía: việc mang thai hộ nói chung, cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ. Bảng dưới đọc từng điều kiện kèm lý do đằng sau:
| Bên | Điều kiện | Vì sao luật đặt ra |
|---|---|---|
| Việc mang thai hộ nói chung | Tự nguyện, có thoả thuận bằng văn bản; không trái quy định về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản | Bảo đảm không ai bị ép buộc, và mọi bước y khoa diễn ra ở cơ sở được phép |
| Vợ chồng nhờ mang thai hộ | Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền rằng người vợ không thể mang thai và sinh con kể cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản | Mang thai hộ là giải pháp cuối cùng, không phải lựa chọn tiện lợi |
| Vợ chồng nhờ mang thai hộ | Đang không có con chung | Ưu tiên cho cặp vợ chồng chưa có con chung, hạn chế nguy cơ biến chế định này thành dịch vụ |
| Vợ chồng nhờ mang thai hộ | Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý | Hai người hiểu trước hệ quả, kể cả tình huống xấu |
| Người mang thai hộ | Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ | Quan hệ họ hàng làm giảm động cơ kinh tế và tăng ràng buộc tình cảm, trách nhiệm |
| Người mang thai hộ | Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần | Người từng sinh con hiểu rủi ro thai sản; giới hạn một lần để bảo vệ sức khoẻ và ngăn việc làm "nghề" |
| Người mang thai hộ | Ở độ tuổi phù hợp, có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ | Sức khoẻ của người mang thai được đặt lên trước mong muốn của bên nhờ |
| Người mang thai hộ | Nếu có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng; đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý | Việc mang thai ảnh hưởng trực tiếp tới gia đình người mang thai hộ, kể cả quan hệ vợ chồng của họ |
"Người thân thích cùng hàng" được hiểu theo văn bản hướng dẫn là anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì; và anh, chị, em là con riêng của vợ hoặc của chồng. Ví dụ giả định: em gái ruột của người vợ hoặc chị họ con bác của người chồng có thể thuộc diện; một người bạn thân hay đồng nghiệp thì không, dù tình cảm thân thiết đến đâu. Các mức cụ thể như "độ tuổi phù hợp" do ngành y tế hướng dẫn, nên đối chiếu văn bản hiện hành tại cơ sở thực hiện kỹ thuật.
Thoả thuận mang thai hộ: hình thức và nội dung bắt buộc
Phải lập thành văn bản có công chứng. Luật không chấp nhận thoả thuận miệng hay giấy viết tay cho việc này. Công chứng buộc các bên trình bày ý chí trước một người làm nghề độc lập, kiểm tra năng lực và sự tự nguyện, đồng thời tạo chứng cứ rõ ràng nếu sau này có tranh chấp.
Ghi rõ thông tin các bên đủ điều kiện. Thoả thuận phải thể hiện thông tin của vợ chồng nhờ mang thai hộ và của bên mang thai hộ (cả người chồng của người mang thai hộ nếu có), kèm những căn cứ cho thấy họ đáp ứng điều kiện luật đặt ra.
Cam kết quyền và nghĩa vụ. Các bên cam kết thực hiện quyền, nghĩa vụ theo luật, trong đó có việc giao và nhận con, chi phí chăm sóc sức khoẻ sinh sản, cách hỗ trợ người mang thai hộ.
Dự liệu tình huống xấu. Thoả thuận phải tính tới việc xử lý khi có tai biến sản khoa, việc hỗ trợ để bảo đảm sức khoẻ sinh sản cho người mang thai hộ trong thời gian mang thai, sinh con và phục hồi, cũng như trách nhiệm dân sự khi một bên vi phạm cam kết. Đây là phần nhiều gia đình ngại bàn, nhưng chính nó bảo vệ người mang thai hộ.
Uỷ quyền có giới hạn. Vợ chồng bên nhờ có thể uỷ quyền cho nhau, vợ chồng bên mang thai hộ có thể uỷ quyền cho nhau trong việc thoả thuận, và việc uỷ quyền đó cũng phải lập thành văn bản có công chứng. Uỷ quyền cho người thứ ba thay mình thoả thuận thì không có giá trị pháp lý. Logic ở đây là một quyết định gắn với thân thể và con cái không thể giao cho người ngoài.
Quyền và nghĩa vụ của người mang thai hộ
Luật coi người mang thai hộ trước hết là một người mẹ đang mang thai, với đầy đủ quyền được chăm sóc, đồng thời ràng buộc họ vào cam kết giao con. Những điểm chính:
- Được đối xử như người mẹ mang thai. Quyền và nghĩa vụ của người mang thai hộ trong việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản giống như người mẹ mang thai bình thường, cho tới thời điểm giao đứa trẻ.
- Có quyền đề nghị bên nhờ hỗ trợ. Người mang thai hộ có quyền đề nghị vợ chồng nhờ mang thai hộ thực hiện các việc cần thiết để bảo đảm việc mang thai an toàn, chăm sóc sức khoẻ sinh sản.
- Phải tuân thủ chỉ định y tế. Người mang thai hộ có nghĩa vụ thực hiện quy định về kiểm tra sức khoẻ sinh sản trước và trong quá trình mang thai, theo chỉ dẫn của cơ sở y tế.
- Phải giao đứa trẻ. Người mang thai hộ và chồng của họ (nếu có) có nghĩa vụ giao đứa trẻ cho vợ chồng nhờ mang thai hộ. Đến khi giao, họ có quyền và nghĩa vụ chăm sóc đứa trẻ như cha mẹ.
- Được hưởng chế độ thai sản. Người mang thai hộ được hưởng chế độ liên quan đến thai sản cho tới thời điểm giao đứa trẻ, theo pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội; mức và điều kiện hưởng đối chiếu văn bản hiện hành.
- Có quyền yêu cầu toà buộc bên nhờ nhận con. Trường hợp vợ chồng nhờ mang thai hộ không nhận con, bên mang thai hộ có quyền yêu cầu toà án buộc họ nhận. Luật không để đứa trẻ rơi vào cảnh không ai chịu trách nhiệm.
Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng nhờ mang thai hộ
Phía bên kia, luật đặt lên vai cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ những nghĩa vụ tương xứng với mong muốn có con của họ:
- Chịu chi phí thực tế. Vợ chồng nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho người mang thai hộ. Chữ "thực tế" là ranh giới: chi phí khám, sinh, thuốc, bồi dưỡng, đi lại có căn cứ, chứ không phải tiền công.
- Nhận con và có quyền, nghĩa vụ cha mẹ từ lúc trẻ sinh ra. Quan hệ cha mẹ và con phát sinh ngay từ thời điểm đứa trẻ được sinh ra, không chờ tới lúc giao nhận. Mọi quyền, nghĩa vụ của cha mẹ với con chung đều áp dụng.
- Không được từ chối nhận con. Kể cả khi đứa trẻ sinh ra có dị tật hay bệnh, vợ chồng nhờ mang thai hộ không có quyền từ chối. Họ đã chủ động tạo ra đứa trẻ bằng phôi của chính mình; luật không cho họ chọn nhận hay không theo tình trạng sức khoẻ của con.
- Có quyền yêu cầu giao con. Nếu bên mang thai hộ không giao đứa trẻ, vợ chồng nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu toà án buộc giao.
- Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản từ khi nhận con. Người vợ trong cặp nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản kể từ thời điểm nhận con, theo pháp luật bảo hiểm xã hội.
Ai là cha mẹ của đứa trẻ, và vì sao không ai được đổi ý
Luật giải quyết câu hỏi khó nhất bằng một câu ngắn: con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra. Người mang thai hộ không phải là mẹ của đứa trẻ về mặt pháp lý, dù là người sinh ra nó. Chồng của người mang thai hộ cũng không phải là cha. Quy tắc suy đoán con chung dành cho người vợ sinh con không áp dụng cho người mang thai hộ.
Vì sao luật không cho ai đổi ý? Nếu người mang thai hộ được quyền giữ đứa trẻ, cặp vợ chồng nhờ sẽ mất con ruột về mặt di truyền. Nếu cặp vợ chồng nhờ được quyền từ chối, đứa trẻ sẽ bị bỏ rơi bởi chính người tạo ra nó. Cả hai hướng đều làm đứa trẻ thành vật trao đổi. Luật chọn sự chắc chắn: quan hệ cha mẹ và con được xác lập trước theo thoả thuận và theo luật, không phụ thuộc vào cảm xúc của các bên ở thời điểm sinh.
Sự chắc chắn này cũng giải thích những tình huống ít ai nghĩ tới. Ví dụ giả định: trong thời gian người mang thai hộ đang mang thai, cặp vợ chồng nhờ ly hôn. Đứa trẻ sinh ra vẫn là con chung của hai người theo luật, và việc ai trực tiếp nuôi, ai cấp dưỡng được giải quyết như mọi trường hợp cha mẹ ly hôn. Hay khi một người trong cặp vợ chồng nhờ qua đời trước khi đứa trẻ ra đời, đứa trẻ vẫn là con của người đó, kéo theo quyền thừa kế. Những tranh chấp về xác định cha mẹ trong trường hợp mang thai hộ thuộc thẩm quyền của toà án.
Mang thai hộ vì mục đích thương mại: ranh giới và hệ quả
Ranh giới giữa nhân đạo và thương mại không nằm ở việc có tiền chuyển qua tay hay không, mà ở bản chất khoản tiền đó. Những điểm cần nắm:
- Bị cấm ở mức nguyên tắc. Luật Hôn nhân và gia đình đưa mang thai hộ vì mục đích thương mại, cùng với sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi và sinh sản vô tính, vào danh sách hành vi bị cấm.
- Có thể bị xử lý hình sự. Bộ luật Hình sự 2015 có tội danh riêng về tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại. Người tổ chức, môi giới, kết nối có thể bị truy cứu; mức xử lý cụ thể phụ thuộc hành vi và văn bản hiện hành, bài này không nêu khung hình phạt.
- Chi phí thực tế khác tiền công. Khoản chi cho khám thai, sinh nở, thuốc men, dinh dưỡng, đi lại có chứng từ là nghĩa vụ hợp pháp của bên nhờ. Khoản tiền trả để đổi lấy việc mang thai, hoặc vượt xa chi phí thực tế nhằm trả công, mang dấu hiệu thương mại.
- Điều kiện "người thân thích cùng hàng" là hàng rào thứ nhất. Luật chặn từ gốc bằng việc chỉ cho người trong họ hàng gần mang thai hộ. Những lời mời "tìm người mang thai hộ" từ người lạ, trên mạng, về bản chất không đáp ứng điều kiện của chế định nhân đạo.
- Thoả thuận trái luật không có giá trị bảo vệ. Một thoả thuận mang thai hộ thương mại không được pháp luật công nhận. Khi có tranh chấp về đứa trẻ, cả hai phía đều ở vị thế rủi ro, còn đứa trẻ là người chịu thiệt nhất.
Những chỗ dễ vướng và khi nào nên nhờ người làm nghề
Chế định mang thai hộ đã có từ năm 2015, nhưng số trường hợp thực hiện không nhiều, và mỗi trường hợp thường đụng tới nhiều lĩnh vực cùng lúc: y tế (xác nhận vô sinh, xác nhận khả năng mang thai hộ, quy trình kỹ thuật), công chứng (thoả thuận, uỷ quyền), lao động và bảo hiểm xã hội (chế độ thai sản cho hai người phụ nữ), hộ tịch (khai sinh cho trẻ với cha mẹ là cặp vợ chồng nhờ). Mỗi khâu có văn bản hướng dẫn riêng và có thể thay đổi, nên không nên dựa vào kinh nghiệm truyền miệng của người quen.
Những tình huống nên có luật sư hoặc người làm nghề đọc hồ sơ trước khi ký: người mang thai hộ là họ hàng nhưng bạn chưa chắc có thuộc "cùng hàng" theo cách hiểu của văn bản; một bên có yếu tố nước ngoài hoặc đang cư trú ở nước ngoài; người mang thai hộ đang có chồng nhưng quan hệ vợ chồng không ổn định; hai gia đình muốn ghi những cam kết đặc biệt về việc gặp gỡ đứa trẻ sau này. Thoả thuận tốt là thoả thuận đã tính trước những điều không ai muốn xảy ra.
Việc khai sinh cho trẻ sinh ra từ mang thai hộ, ghi cha mẹ là cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ, thuộc bài thủ tục hộ tịch; giấy tờ chỉ ghi nhận điều luật đã xác định trước.
Câu hỏi thường gặp
Em gái ruột của vợ có được mang thai hộ cho anh chị không?
Có thể, vì em gái ruột là người thân thích cùng hàng của bên vợ. Tuy nhiên người em còn phải đáp ứng đủ các điều kiện khác: đã từng sinh con, chưa từng mang thai hộ, có xác nhận y tế về khả năng mang thai hộ, được tư vấn, và có sự đồng ý bằng văn bản của chồng nếu đang có chồng.
Nhờ bạn thân không có họ hàng mang thai hộ được không?
Không. Luật chỉ cho phép người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng mang thai hộ. Tình cảm thân thiết không thay thế được điều kiện này, và việc nhờ người ngoài dễ bị coi là mang thai hộ trái pháp luật.
Vợ chồng đã có một con chung có được nhờ mang thai hộ không?
Theo điều kiện của luật, vợ chồng nhờ mang thai hộ phải đang không có con chung. Nếu đã có con chung thì không thuộc diện được nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, kể cả khi người vợ sau đó không thể mang thai nữa.
Người mang thai hộ có được giữ lại đứa trẻ nếu đổi ý không?
Không. Đứa trẻ là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ từ thời điểm sinh ra. Người mang thai hộ có nghĩa vụ giao con; nếu không giao, vợ chồng nhờ có quyền yêu cầu toà án buộc giao.
Đứa trẻ sinh ra bị bệnh thì vợ chồng nhờ có được từ chối nhận không?
Không. Luật không cho vợ chồng nhờ mang thai hộ từ chối nhận con trong bất kỳ trường hợp nào. Nếu họ không nhận, bên mang thai hộ có quyền yêu cầu toà án buộc họ nhận con và thực hiện nghĩa vụ cha mẹ.
Đưa tiền cho người mang thai hộ có phạm luật không?
Vợ chồng nhờ có nghĩa vụ chi trả chi phí thực tế để chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho người mang thai hộ; đó là hợp pháp. Khoản tiền mang tính trả công, đổi lấy việc mang thai, có dấu hiệu mang thai hộ vì mục đích thương mại, là hành vi bị cấm.
Phụ nữ độc thân có được nhờ người mang thai hộ không?
Không. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo chỉ dành cho cặp vợ chồng có đăng ký kết hôn. Phụ nữ độc thân có thể tìm hiểu việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho chính mình theo quy định của ngành y tế.