Quan hệ lao động là quan hệ phát sinh khi một bên thuê mướn, sử dụng sức lao động của bên kia và trả lương. Theo Bộ luật Lao động 2019, một thoả thuận được coi là hợp đồng lao động khi có đủ ba yếu tố: việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên — kể cả khi hai bên đặt cho nó tên gọi khác như "hợp đồng cộng tác" hay "hợp đồng dịch vụ".
Câu hỏi này nghe có vẻ lý thuyết nhưng quyết định gần như mọi quyền lợi phía sau: có phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không, có được nghỉ phép năm, có được trả tiền làm thêm giờ, có trợ cấp thôi việc, có phải xử lý kỷ luật theo trình tự hay không. Phần dưới đây giảng cách luật nhận diện quan hệ lao động, cách phân biệt với các loại hợp đồng dân sự gần giống và những vùng ranh giới còn hay gây tranh cãi.
Quan hệ lao động theo định nghĩa của Bộ luật
Điều 3 Bộ luật Lao động 2019 định nghĩa quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên và cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Định nghĩa này rộng: nó không chỉ nói về hai người ký hợp đồng mà về cả một mạng quan hệ xoay quanh việc thuê người làm.
Bộ luật chia quan hệ lao động thành hai tầng. Quan hệ lao động cá nhân là giữa từng người lao động với người sử dụng lao động, gắn với hợp đồng lao động của người đó. Quan hệ lao động tập thể là giữa tập thể người lao động, thông qua tổ chức đại diện như công đoàn cơ sở, với một hoặc nhiều người sử dụng lao động, thể hiện qua đối thoại, thương lượng tập thể, thoả ước lao động tập thể và cả đình công.
Song song, bộ luật dùng khái niệm "người làm việc không có quan hệ lao động" cho những người làm việc không trên cơ sở thuê mướn bằng hợp đồng lao động, như người tự làm, người hợp tác chia lợi nhuận. Việc đặt khái niệm này vào luật cho thấy nhà làm luật thừa nhận có một vùng lao động rộng nằm ngoài hợp đồng lao động, và vùng đó cũng cần một mức bảo vệ tối thiểu.
Ba dấu hiệu luật dùng để nhận biết
Có việc làm cụ thể do một bên thực hiện cho bên kia. Người lao động tự mình làm công việc, không phải giao một kết quả rồi muốn ai làm cũng được. Tính "đích danh" là dấu hiệu rõ: người được thuê không thể tự ý cho người khác làm thay mà không hỏi chủ.
Có trả công, tiền lương. Khoản tiền trả theo thời gian, theo sản phẩm hoặc theo khoán, thường định kỳ. Tiền lương có thể gồm lương theo công việc, phụ cấp và khoản bổ sung. Hoa hồng thuần tuý theo doanh số, không có phần cố định, không tự động loại trừ quan hệ lao động nhưng làm bức tranh phức tạp hơn.
Có sự quản lý, điều hành, giám sát. Đây thường là dấu hiệu quyết định. Bên thuê quyết định giờ đến, giờ về, cách làm, nơi làm, giao việc hằng ngày, chấm công, đánh giá, nhắc nhở hoặc xử lý khi làm sai. Người nhận việc phải tuân theo nội quy và mệnh lệnh của bên thuê chứ không tự tổ chức công việc theo ý mình.
Tên gọi không phải dấu hiệu. Khoản 1 Điều 13 nói rõ: trường hợp hai bên thoả thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động. Câu này là điểm tựa pháp lý cho mọi tranh chấp về "hợp đồng lao động trá hình".
Quan hệ lao động khác hợp đồng dịch vụ và khoán việc ở đâu
Hợp đồng dịch vụ và hợp đồng gia công, khoán việc theo kiểu dân sự chịu Bộ luật Dân sự. Chúng giống hợp đồng lao động ở chỗ có người làm và người trả tiền, nhưng khác ở cách tổ chức công việc. Bảng dưới đặt các tiêu chí cạnh nhau:
| Tiêu chí | Quan hệ lao động | Hợp đồng dịch vụ, khoán việc dân sự |
|---|---|---|
| Đối tượng chính | Sức lao động, quá trình làm việc | Kết quả công việc hoặc dịch vụ hoàn thành |
| Ai quyết định cách làm | Người sử dụng lao động điều hành, giám sát | Bên nhận làm tự tổ chức, chỉ cam kết kết quả |
| Thời giờ, nơi làm | Theo nội quy, ca kíp do chủ bố trí | Bên nhận tự chủ, trừ mốc giao nộp |
| Công cụ, nguyên liệu | Thường do chủ cung cấp | Thường do bên nhận tự lo |
| Người làm thay | Không tự ý được | Có thể thuê người khác nếu hợp đồng không cấm |
| Thù lao | Tiền lương, không thấp hơn lương tối thiểu vùng | Giá dịch vụ do hai bên thoả thuận tự do |
| Bảo hiểm, nghỉ phép | Bảo hiểm bắt buộc theo điều kiện luật định, phép năm, làm thêm giờ | Không có các chế độ này theo luật lao động |
| Văn bản điều chỉnh | Bộ luật Lao động | Bộ luật Dân sự |
Không tiêu chí nào đứng riêng là đủ. Một thợ sửa điện nhận sửa cho nhiều nhà, tự mang dụng cụ, tự quyết giờ đến và nhận tiền theo từng việc thì nhiều khả năng là quan hệ dịch vụ. Một người mang danh "cộng tác viên" nhưng sáng nào cũng phải có mặt lúc tám giờ, bị trừ tiền khi đến muộn, làm theo kịch bản do công ty soạn và chỉ làm cho một công ty thì lại nghiêng hẳn về quan hệ lao động.
Tên gọi không quyết định bản chất: hai ví dụ giả định
Ví dụ giả định thứ nhất. Chị Hạnh ký "hợp đồng cộng tác viên chăm sóc khách hàng" với một công ty bán mỹ phẩm ở Hà Nội. Chị ngồi tại văn phòng công ty từ thứ Hai đến thứ Bảy, dùng máy tính và số điện thoại công ty cấp, có trưởng nhóm giao chỉ tiêu cuộc gọi hằng ngày, đến muộn bị nhắc nhở, nhận một khoản cố định mỗi tháng cộng thưởng doanh số. Dù tờ giấy ghi "cộng tác viên", gần như mọi dấu hiệu đều chỉ về quan hệ lao động.
Ví dụ giả định thứ hai. Anh Tùng là thợ chụp ảnh tự do ở Cần Thơ, nhận chụp sản phẩm cho một cửa hàng thời trang theo từng đợt hàng mới. Anh tự chọn ngày chụp, tự mang máy, tự thuê phụ khi cần, nhận tiền theo số bộ ảnh giao, đồng thời vẫn nhận chụp cho nhiều cửa hàng khác. Cửa hàng chỉ duyệt ảnh đầu ra chứ không điều hành cách anh làm. Đây là quan hệ dịch vụ điển hình.
Điểm chung của hai ví dụ: điều quyết định là cách công việc diễn ra trên thực tế. Khi có tranh chấp, cơ quan giải quyết sẽ nhìn vào tin nhắn giao việc, bảng chấm công, sao kê trả tiền định kỳ, quy định nội bộ áp lên người làm, chứ không dừng ở tiêu đề hợp đồng. Vì vậy cả hai phía đều nên để hình thức hợp đồng khớp với cách làm việc thật ngay từ đầu.
Vì sao xác định đúng lại quan trọng với cả hai bên
Khi một quan hệ được xác định là quan hệ lao động, cả một hệ quy định đi kèm tự động kích hoạt. Với người làm, đó là các quyền; với bên thuê, đó là các nghĩa vụ có thể bị truy lại:
- Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc khi đủ điều kiện luật định, kèm khả năng bị truy đóng cho cả thời gian đã làm.
- Tiền lương không thấp hơn lương tối thiểu vùng, tiền làm thêm giờ, làm ban đêm theo tỷ lệ luật định.
- Nghỉ hằng tuần, nghỉ lễ, Tết, nghỉ phép năm và thanh toán ngày phép chưa nghỉ khi thôi việc.
- Trình tự xử lý kỷ luật lao động; không được phạt tiền, cắt lương thay cho kỷ luật.
- Các căn cứ, thời hạn báo trước khi chấm dứt hợp đồng; trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm khi đủ điều kiện.
- Chế độ khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo pháp luật an toàn, vệ sinh lao động.
- Quy định riêng bảo vệ lao động nữ mang thai, nuôi con nhỏ, lao động chưa thành niên.
Với người sử dụng lao động, đặt nhầm tên một quan hệ lao động thành hợp đồng dịch vụ để giảm chi phí là rủi ro dồn tích: càng để lâu, số tiền truy đóng bảo hiểm và các khoản phải trả càng lớn, chưa kể bị xử phạt hành chính. Với người làm, hiểu đúng bản chất giúp bạn biết mình có những quyền gì để thương lượng ngay từ khi nhận việc.
Những vùng ranh giới hay gây tranh cãi
Cộng tác viên bán hàng hưởng hoa hồng. Nếu tự tìm khách, tự chọn giờ, không bị chấm công, chỉ nhận phần trăm khi có đơn thì thường là quan hệ dân sự. Nếu bị giao chỉ tiêu, phải có mặt tại điểm bán theo ca, mặc đồng phục và chịu kỷ luật như nhân viên thì nghiêng về quan hệ lao động.
Giáo viên, huấn luyện viên dạy theo giờ. Người dạy theo lịch do trung tâm xếp cố định, theo giáo trình trung tâm quy định, nhận thù lao định kỳ, thường được xem là có quan hệ lao động, dù mỗi tuần chỉ vài buổi. Làm ít giờ không làm mất bản chất, mà chỉ đưa người đó vào nhóm làm việc không trọn thời gian.
Làm việc qua nền tảng số. Người nhận đơn qua ứng dụng có thể tự bật tắt ứng dụng, nhưng chịu thuật toán phân việc, đánh giá và khoá tài khoản. Pháp luật hiện vẫn xem xét theo bản chất từng quan hệ; đây là vùng còn nhiều ý kiến khác nhau, cả trong nước và quốc tế.
Người thân làm trong hộ kinh doanh gia đình. Con, cháu phụ giúp cửa hàng của gia đình mà không có thoả thuận trả lương thì thường không phải quan hệ lao động. Khi đã có thoả thuận trả lương cố định và chịu sự điều hành như người làm thuê, quan hệ đó có thể được coi là quan hệ lao động.
Học nghề, tập nghề, thực tập. Người học nghề, tập nghề để làm việc cho chính người sử dụng lao động phải có hợp đồng đào tạo; nếu trong thời gian đó trực tiếp làm ra sản phẩm hoặc tham gia lao động thì được trả lương theo thoả thuận. Gắn mác "học việc" không cho phép dùng người lao động không công kéo dài.
Khi nào nên nhờ người làm nghề. Nếu hai bên đã căng thẳng, số tiền truy đòi lớn hoặc nhiều người cùng ở tình trạng như nhau, bạn nên nhờ luật sư hoặc hoà giải viên lao động đánh giá chứng cứ trước khi chọn đường đi. Bạn có thể hỏi luật sư trên AI Cố Vấn để được nghe một ý kiến chuyên môn về hồ sơ của mình.
Câu hỏi thường gặp
Không có hợp đồng giấy thì có quan hệ lao động không?
Có thể có. Quan hệ lao động được xác định theo bản chất: có việc làm, có trả lương, có sự quản lý điều hành. Thiếu văn bản chỉ khiến việc chứng minh khó hơn, và người sử dụng lao động còn có thể bị xử phạt vì không giao kết hợp đồng bằng văn bản khi luật bắt buộc.
Ký hợp đồng cộng tác viên có bị đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc không?
Nếu thực chất là quan hệ lao động và đủ điều kiện về thời hạn, tiền lương theo pháp luật bảo hiểm xã hội thì vẫn thuộc diện đóng bắt buộc, bất kể tên hợp đồng. Nếu đúng là hợp đồng dịch vụ thì không thuộc diện bảo hiểm bắt buộc theo hợp đồng lao động.
Ai có thẩm quyền xác định một quan hệ có phải quan hệ lao động khi hai bên tranh chấp?
Khi tranh chấp, hoà giải viên lao động, hội đồng trọng tài lao động hoặc toà án xem xét chứng cứ để kết luận, trong đó toà án có tiếng nói cuối cùng. Thanh tra lao động cũng có thể kết luận trong quá trình thanh tra và xử phạt nếu phát hiện hợp đồng trá hình.
Người làm việc không có quan hệ lao động có quyền gì?
Bộ luật cho phép áp dụng một số quy định của Bộ luật Lao động cho nhóm này, ví dụ về tiêu chuẩn an toàn hay thời giờ làm việc ở mức phù hợp, tuỳ hướng dẫn. Họ không đương nhiên có trợ cấp thôi việc hay phép năm như người có hợp đồng lao động.
Một người có thể vừa có hợp đồng lao động vừa nhận hợp đồng dịch vụ với cùng công ty không?
Về nguyên tắc có thể, nếu hai công việc thật sự khác nhau và cách làm khác nhau. Nhưng nếu phần việc trong hợp đồng dịch vụ thực chất vẫn chịu điều hành như công việc chính, nó có thể bị coi là một phần quan hệ lao động, kéo theo tiền làm thêm giờ và bảo hiểm.
Quan hệ lao động tập thể khác quan hệ lao động cá nhân ở điểm nào?
Quan hệ cá nhân là giữa từng người với người sử dụng lao động, gắn với hợp đồng riêng. Quan hệ tập thể đặt tập thể người lao động, qua tổ chức đại diện, đối diện người sử dụng lao động, thể hiện qua đối thoại, thương lượng, thoả ước và đình công.