Ba nhóm con số trong Bộ luật Dân sự đã đổi khi chuyển từ bản 2005 sang bản 2015: trần lãi suất cho vay giữa các cá nhân, tổ chức không phải tổ chức tín dụng (từ 150% lãi suất cơ bản thành 20%/năm), lãi suất áp dụng khi chậm trả tiền hoặc lãi không rõ (từ lãi suất cơ bản thành 10%/năm, tức một nửa mức trần), và mức bù đắp tổn thất tinh thần tối đa (từ số tháng lương tối thiểu thành số lần mức lương cơ sở, đồng thời tăng lên).
Đây là những con số người ta hay trích nhất khi cãi nhau về tiền, và cũng là nơi tài liệu cũ gây nhầm lẫn nhiều nhất. Bài này không bàn chuyện cho vay nặng lãi hay cách tính lãi khoản vay ngân hàng, mà đặt hai bộ luật cạnh nhau để bạn thấy con số nào đổi, vì sao đổi, và khi đọc một tài liệu cũ thì cần quy đổi thế nào.
Trần lãi suất dưới bộ luật cũ: một con số luôn trôi
Bộ luật Dân sự 2005 quy định lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng. Muốn biết trần là bao nhiêu, người dân phải đi tìm lãi suất cơ bản đang được công bố tại thời điểm ký, rồi nhân với 1,5. Ví dụ giả định: nếu lãi suất cơ bản ở mức 9%/năm thì trần tương ứng là 13,5%/năm.
Cách quy định này có hai nhược điểm. Thứ nhất, lãi suất cơ bản là công cụ của chính sách tiền tệ, có thể thay đổi theo từng giai đoạn, nên trần lãi suất dân sự cũng thay đổi theo, khiến cùng một hợp đồng vay có thể hợp lệ hay vượt trần tuỳ ngày ký. Thứ hai, trong thực tế điều hành tiền tệ, lãi suất cơ bản dần không còn là công cụ chính, nên việc lấy nó làm mốc trở nên xa rời đời sống.
Hậu quả là toà án các nơi tính trần khác nhau trong những tranh chấp giống nhau, còn người dân thì hầu như không thể tự xác định khoản lãi mình thoả thuận có hợp pháp hay không.
Bộ luật 2015: trần cố định 20%/năm và mức 10%/năm
Trần 20%/năm. Lãi suất theo thoả thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Mức này do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh khi cần, căn cứ tình hình thực tế và đề xuất của Chính phủ, rồi báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Vượt trần thì phần vượt không có hiệu lực. Thoả thuận lãi vượt trần không làm vô hiệu cả hợp đồng vay; chỉ phần lãi vượt quá mức trần bị coi là không có hiệu lực. Khoản vay và phần lãi trong trần vẫn được bảo vệ.
Lãi không rõ thì lấy 10%/năm. Khi các bên có thoả thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất, hoặc có tranh chấp về lãi suất, thì lãi suất được xác định bằng 50% mức trần, tức 10%/năm, tại thời điểm trả nợ.
"Luật khác" là gì. Cụm từ "trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác" là lý do các tổ chức tín dụng không bị ràng buộc bởi mức 20%/năm của Bộ luật Dân sự: lãi suất cho vay của họ chịu sự điều chỉnh của pháp luật về các tổ chức tín dụng. Trần 20% chủ yếu áp dụng cho vay mượn giữa cá nhân, giữa doanh nghiệp không phải tổ chức tín dụng.
Lãi chậm trả: từ lãi suất cơ bản sang mốc cố định
Ngoài lãi của khoản vay, còn một loại lãi phát sinh khi bên có nghĩa vụ trả tiền chậm trả, ví dụ chậm thanh toán tiền hàng, tiền thuê nhà, tiền bồi thường. Bộ luật 2005 lấy lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước làm mốc tính lãi chậm trả. Bộ luật 2015 thay bằng nguyên tắc: lãi suất do các bên thoả thuận nhưng không vượt quá mức trần 20%/năm; nếu không có thoả thuận thì áp dụng mức 10%/năm.
Với hợp đồng vay, bộ luật 2015 tách rõ các trường hợp. Vay không có lãi mà đến hạn không trả hoặc trả không đủ thì bên vay phải trả lãi trên khoản nợ chậm trả theo mức 10%/năm, trừ khi có thoả thuận khác. Vay có lãi mà đến hạn không trả hoặc trả không đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc theo lãi suất thoả thuận tương ứng với thời gian vay mà chưa trả; lãi chậm trả trên phần lãi chưa trả tính theo mức 10%/năm; còn lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng, tương ứng với thời gian chậm trả, trừ khi có thoả thuận khác.
Điểm cần nhớ là các con số này đều được neo vào mức trần hoặc vào chính lãi suất trong hợp đồng, nên không còn phụ thuộc vào một chỉ số bên ngoài có thể thay đổi như trước.
Bù đắp tổn thất tinh thần: từ tháng lương tối thiểu sang lần lương cơ sở
Khi sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, người bị thiệt hại ngoài các khoản vật chất còn được bù đắp tổn thất về tinh thần. Hai bộ luật đặt mức tối đa khác nhau nếu các bên không thoả thuận được.
| Trường hợp | Mức tối đa theo BLDS 2005 | Mức tối đa theo BLDS 2015 |
|---|---|---|
| Sức khoẻ bị xâm phạm | 30 tháng lương tối thiểu | 50 lần mức lương cơ sở |
| Tính mạng bị xâm phạm | 60 tháng lương tối thiểu | 100 lần mức lương cơ sở |
| Danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm | 10 tháng lương tối thiểu | 10 lần mức lương cơ sở |
Mức lương cơ sở do Chính phủ quy định và được điều chỉnh theo từng thời kỳ, nên con số tuyệt đối thay đổi theo năm. Khi tính, toà lấy mức lương cơ sở có hiệu lực tại thời điểm giải quyết bồi thường. Bạn nên tra mức hiện hành trên cổng thông tin của Chính phủ thay vì dựa vào con số trên một bài báo cũ.
Cũng cần đọc đúng chữ "tối đa": đây là trần khi các bên không thoả thuận được, không phải mức đương nhiên được hưởng. Toà cân nhắc mức độ tổn thất, hoàn cảnh cụ thể để quyết định trong khung này, còn nếu các bên tự thoả thuận thì có thể cao hơn hoặc thấp hơn.
Vì sao chọn con số cố định: được gì và mất gì
Chuyển từ một mốc trôi theo lãi suất cơ bản sang con số cố định 20%/năm là một lựa chọn chính sách, không đơn thuần là sửa kỹ thuật. Cái được rõ nhất là tính dự đoán: người cho vay và người vay, kể cả người không học luật, đều tự tính được thoả thuận của mình có vượt trần hay không mà không phải tra cứu chỉ số nào. Toà án các nơi cũng có một mốc chung, nên hai vụ việc giống nhau ít bị xử khác nhau hơn.
Cái mất là sự mềm dẻo. Một con số cố định không tự điều chỉnh khi mặt bằng lãi suất thị trường thay đổi mạnh. Nhà làm luật xử lý điểm này bằng cách giao cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyền điều chỉnh mức trần khi cần, thay vì phải sửa cả bộ luật. Đến nay, khi muốn biết mức trần đang áp dụng, bạn vẫn nên kiểm tra xem đã có quyết định điều chỉnh nào hay chưa.
Cũng cần hiểu đúng mục đích của trần lãi suất dân sự. Nó không nhằm định giá khoản vay, mà nhằm đặt giới hạn trên để bảo vệ bên vay trong những giao dịch giữa các bên không ngang sức, thường là người cần tiền gấp. Vì thế, phần vượt trần bị vô hiệu chứ cả khoản vay không bị phủ nhận: luật vẫn muốn người vay trả nợ, chỉ không muốn họ bị bóc lột bằng lãi. Những khoản cho vay với lãi suất cao gấp nhiều lần mức trần còn có thể bị xem xét dưới góc độ hình sự, một chủ đề thuộc trang khác.
Những con số không đổi nhưng hay bị tưởng là đổi
Phạt vi phạm trong hợp đồng dân sự. Cả hai bộ luật đều để các bên tự thoả thuận mức phạt vi phạm và không đặt trần, trừ khi luật liên quan quy định khác. Con số 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm mà nhiều người nhắc là trần phạt trong Luật Thương mại 2005, áp dụng cho hợp đồng thương mại, không phải trần của Bộ luật Dân sự.
Đặt cọc. Nguyên tắc "bên nhận cọc từ chối giao kết thì trả lại cọc và một khoản tương đương" được giữ nguyên từ bản 2005 sang bản 2015, trừ khi các bên có thoả thuận khác. Nhiều hợp đồng ghi phạt cọc gấp nhiều lần; đó là thoả thuận riêng của các bên.
Thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu. Con số hai năm được giữ nguyên, chỉ cách xác định mốc bắt đầu được viết rõ hơn. Những thời hiệu thật sự đổi là thời hiệu khởi kiện hợp đồng, bồi thường ngoài hợp đồng và chia di sản, có bài riêng trong cùng danh mục.
Đọc một bản án hay hợp đồng cũ: cách quy đổi cho đúng
Khi gặp một con số lãi suất hay mức bồi thường trong tài liệu cũ, câu hỏi đầu tiên là tài liệu đó viết theo bộ luật nào. Một bản án năm 2015 nói lãi suất vượt "150% lãi suất cơ bản" là đang áp dụng đúng luật lúc đó; một bài báo năm 2016 nói bồi thường tính mạng "tối đa 60 tháng lương tối thiểu" cũng vậy. Chúng không sai, chỉ là không còn áp dụng cho việc xảy ra sau năm 2017.
Câu hỏi thứ hai là giao dịch của bạn rơi vào bộ luật nào. Theo điều khoản chuyển tiếp của Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng vay đã ký trước 1/1/2017 mà đang thực hiện vẫn có thể được xem xét theo luật cũ về lãi suất, trong khi phần lãi phát sinh trong một số trường hợp lại được hướng dẫn tính theo luật mới. Đây là vùng có văn bản hướng dẫn riêng của Toà án nhân dân tối cao, không nên tự quy đổi.
Ví dụ giả định: bà Lan ở Hải Phòng cho vay năm 2015 với lãi suất 2%/tháng, tức 24%/năm, đến 2019 mới kiện đòi. Câu hỏi khoản lãi nào được chấp nhận phụ thuộc vào việc hợp đồng thuộc trường hợp chuyển tiếp nào và từng giai đoạn tính lãi. Một người làm nghề sẽ lập bảng chia theo mốc thời gian thay vì áp một con số cho cả khoản vay.
Câu hỏi thường gặp
Trần lãi suất 20%/năm có áp dụng cho ngân hàng không?
Không trực tiếp. Bộ luật Dân sự đặt trần 20%/năm nhưng cho phép luật khác có liên quan quy định khác. Lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng được điều chỉnh bởi pháp luật về các tổ chức tín dụng và quy định của Ngân hàng Nhà nước, nên không bị giới hạn bởi con số của Bộ luật Dân sự.
Cho vay lãi 3%/tháng thì hợp đồng có bị vô hiệu không?
Hợp đồng vay không bị vô hiệu toàn bộ. Lãi 3%/tháng tương đương 36%/năm, vượt trần 20%/năm, nên phần lãi vượt quá mức trần không có hiệu lực. Khoản gốc và phần lãi trong trần vẫn được bảo vệ. Việc cho vay với lãi suất cao gấp nhiều lần mức trần còn có thể bị xem xét theo luật hình sự.
Không ghi lãi suất trong giấy vay thì có được đòi lãi không?
Nếu các bên không thoả thuận trả lãi thì đó là vay không có lãi, bên cho vay chỉ được đòi gốc. Nếu đến hạn mà bên vay không trả, bên vay phải trả lãi trên khoản chậm trả theo mức 10%/năm. Nếu có thoả thuận trả lãi nhưng không ghi rõ mức, lãi được tính bằng 10%/năm.
Mức lương cơ sở để tính bồi thường tinh thần lấy ở thời điểm nào?
Mức lương cơ sở dùng để tính là mức có hiệu lực tại thời điểm giải quyết bồi thường, không phải thời điểm xảy ra thiệt hại. Vì mức lương cơ sở được điều chỉnh theo từng thời kỳ, con số tuyệt đối có thể khác nhau giữa hai vụ việc cùng loại xử ở hai năm khác nhau.
Vì sao bộ luật mới đổi từ lương tối thiểu sang lương cơ sở?
Lương tối thiểu chung đã được tách thành lương tối thiểu vùng cho khu vực doanh nghiệp và mức lương cơ sở dùng làm căn cứ cho khu vực nhà nước và các khoản tính toán khác. Dùng mức lương cơ sở giúp có một mốc thống nhất trên cả nước, không phụ thuộc người bị thiệt hại sống ở vùng nào.
Phạt hợp đồng 20% giá trị có hợp pháp không?
Với hợp đồng dân sự thông thường, Bộ luật Dân sự để các bên tự thoả thuận mức phạt và không đặt trần, trừ khi luật liên quan quy định khác. Với hợp đồng thương mại, Luật Thương mại giới hạn mức phạt không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm. Xác định đúng loại hợp đồng là bước đầu tiên.