Công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài, nếu hành vi đó được Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam. Đây là quy định tại Điều 6 Bộ luật Hình sự 2015, áp dụng cả cho pháp nhân thương mại Việt Nam và người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam. Còn mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam, dù người thực hiện là ai, đều thuộc phạm vi áp dụng của bộ luật theo Điều 5, trừ những người được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao, lãnh sự.
Câu hỏi này ngày càng gần với đời sống: hàng trăm nghìn người Việt đi làm, đi học, du lịch ở nước ngoài mỗi năm; nhiều vụ lừa đảo qua mạng được điều hành từ bên kia biên giới nhắm vào người trong nước. Bài này giải thích nguyên tắc áp dụng Bộ luật Hình sự theo không gian, những trường hợp đặc biệt, và một số điều thực tế người đi làm ăn xa nên biết.
Nguyên tắc lãnh thổ: phạm tội trên đất Việt Nam thì áp dụng luật Việt Nam
Nguyên tắc cơ bản nhất là nguyên tắc lãnh thổ: Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam. Người thực hiện có thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài đang du lịch, làm việc, hay người không quốc tịch; chỉ cần hành vi xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam là thuộc phạm vi của bộ luật.
Lãnh thổ ở đây hiểu theo nghĩa pháp lý: đất liền, hải đảo, vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng trời phía trên. Bộ luật còn mở rộng áp dụng cho hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam, hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.
Khoa học luật hình sự thường hiểu một tội phạm được coi là thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam khi hành vi bắt đầu, kết thúc hoặc hậu quả xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam. Điều này quan trọng với các tội qua mạng: ví dụ giả định, một nhóm người ở nước ngoài gọi điện, nhắn tin lừa một người ở Tây Ninh chuyển tiền; hậu quả mất tiền xảy ra tại Việt Nam, nên cơ quan tố tụng Việt Nam có cơ sở để thụ lý, dù việc bắt giữ người ở nước ngoài lại phụ thuộc vào hợp tác quốc tế.
Ngoại lệ: người được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao, lãnh sự
Ai được hưởng. Viên chức ngoại giao, lãnh sự và một số đối tượng khác được hưởng quyền miễn trừ theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế.
Giải quyết thế nào. Bộ luật quy định vấn đề trách nhiệm hình sự của những người này được giải quyết theo điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế đó; trường hợp không có điều ước, tập quán thì giải quyết bằng con đường ngoại giao.
Miễn trừ không có nghĩa là được phép phạm tội. Hành vi của họ vẫn là trái pháp luật. Miễn trừ chỉ có nghĩa là cơ quan tố tụng Việt Nam không trực tiếp truy cứu như với người khác; nước cử có thể từ bỏ quyền miễn trừ, triệu hồi hoặc tự xử lý người đó, và Việt Nam có thể tuyên bố người đó là người không được hoan nghênh.
Không mở rộng cho người nước ngoài thông thường. Chuyên gia, nhà đầu tư, khách du lịch nước ngoài không có quyền miễn trừ. Họ phạm tội ở Việt Nam thì bị xử lý như mọi người, dù có thể được hỗ trợ lãnh sự từ nước mình.
Công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài
Theo Điều 6, công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam. Quy định này cũng áp dụng với người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam. Đây là nguyên tắc quốc tịch: công dân mang theo nghĩa vụ tuân thủ luật hình sự của nước mình dù ở đâu.
Hai chữ "có thể" rất quan trọng. Việc truy cứu tại Việt Nam không tự động xảy ra; nó phụ thuộc vào việc người đó có mặt ở Việt Nam hay không, chứng cứ thu thập được từ nước ngoài, việc người đó đã hoặc đang bị xử lý ở nước sở tại, và các thoả thuận tương trợ tư pháp giữa hai nước. Câu chữ của điều luật chỉ đòi hỏi hành vi là tội theo Bộ luật Hình sự Việt Nam, không đòi hỏi hành vi cũng là tội ở nước nơi xảy ra.
Trong thực tế phổ biến, người Việt phạm tội ở nước ngoài trước hết bị xử lý theo luật của nước sở tại, theo nguyên tắc lãnh thổ của nước đó. Ví dụ giả định: một lao động Việt Nam ở nước ngoài gây thương tích cho đồng nghiệp trong ký túc xá; cảnh sát nước sở tại sẽ điều tra và toà án nước đó xét xử. Vấn đề trách nhiệm tại Việt Nam chỉ đặt ra trong những hoàn cảnh nhất định, như khi người đó đã về nước mà chưa bị xử lý, hoặc hành vi đồng thời xâm hại lợi ích tại Việt Nam.
Người nước ngoài phạm tội ở nước ngoài nhưng xâm hại Việt Nam
Bộ luật còn cho phép truy cứu người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam trong hai nhóm trường hợp: hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc lợi ích của Nhà nước Việt Nam; hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đây là nguyên tắc bảo hộ và nguyên tắc phổ quát mà nhiều nước cùng áp dụng.
Nhóm thứ nhất ngày càng có ý nghĩa với các đường dây lừa đảo, mua bán người, chiếm đoạt dữ liệu hoạt động xuyên biên giới nhắm vào người Việt. Nhóm thứ hai liên quan tới những tội phạm mà cộng đồng quốc tế cam kết cùng trừng trị, như một số tội về ma tuý, khủng bố, cướp biển, mua bán người, theo các công ước mà Việt Nam tham gia.
Bộ luật cũng có quy định với hành vi phạm tội hoặc hậu quả xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở biển cả hoặc vùng trời ngoài lãnh thổ Việt Nam: người phạm tội có thể bị truy cứu theo luật Việt Nam khi điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định.
Cần phân biệt có thẩm quyền theo luật với có khả năng thực thi. Bộ luật cho phép truy cứu, nhưng một người ở nước ngoài chỉ bị đưa ra xét xử khi bị bắt giữ, khi nước nơi họ ở đồng ý dẫn độ, hoặc khi chính họ nhập cảnh vào Việt Nam. Vì thế, với các đường dây xuyên biên giới, kết quả thường đến từ các đợt phối hợp giữa cơ quan công an hai nước hơn là từ một bản án vắng mặt.
Bốn tình huống và luật áp dụng
Bảng dưới tóm tắt bốn tình huống thường gặp theo các nguyên tắc đã nêu. Đây là khung nguyên tắc; việc truy cứu thực tế còn phụ thuộc chứng cứ và hợp tác quốc tế.
| Tình huống | Nguyên tắc | Bộ luật Hình sự Việt Nam có áp dụng không |
|---|---|---|
| Bất kỳ ai phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam | Lãnh thổ | Có, trừ người được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao, lãnh sự |
| Công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài | Quốc tịch | Có thể bị truy cứu tại Việt Nam nếu hành vi là tội theo bộ luật |
| Người nước ngoài ở nước ngoài xâm hại công dân hoặc lợi ích Việt Nam | Bảo hộ | Có thể bị truy cứu theo bộ luật |
| Tội phạm theo điều ước quốc tế, xảy ra ở nước ngoài | Phổ quát, theo điều ước | Có thể, khi điều ước mà Việt Nam là thành viên quy định |
Về thời gian, bộ luật áp dụng điều luật đang có hiệu lực tại thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện, với ngoại lệ hồi tố đối với quy định có lợi cho người phạm tội. Chủ đề áp dụng luật mới cho việc cũ được trình bày riêng.
Dẫn độ, chuyển giao và những điều người đi làm ăn xa nên biết
Hiến pháp 2013 quy định công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác. Vì vậy, nếu một người Việt phạm tội ở nước ngoài rồi về nước, Việt Nam không dẫn độ người đó sang nước kia; thay vào đó, việc truy cứu có thể đặt ra tại Việt Nam theo Điều 6, trên cơ sở tài liệu, chứng cứ mà nước kia cung cấp qua kênh tương trợ tư pháp. Ngược lại, Việt Nam có thể yêu cầu nước ngoài dẫn độ người phạm tội về Việt Nam theo hiệp định hoặc nguyên tắc có đi có lại.
Với người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài, Việt Nam đã ký hiệp định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù với một số nước, cho phép người đó được đưa về chấp hành phần án còn lại ở trong nước khi đủ điều kiện. Thủ tục này phụ thuộc vào từng hiệp định và cần sự đồng ý của các bên liên quan.
Với người chuẩn bị đi làm việc, học tập ở nước ngoài, có vài điều nên ghi nhớ. Một là luật nước sở tại có thể nghiêm khắc hơn nhiều với những việc bạn coi là nhỏ, như mang hộ hành lý không rõ nội dung, làm việc không đúng giấy phép, cho mượn tài khoản ngân hàng. Hai là một hành vi bị xử ở nước ngoài không có nghĩa là xong hẳn mọi chuyện ở trong nước. Ba là khi gặp rắc rối pháp lý ở nước ngoài, hãy liên hệ cơ quan đại diện Việt Nam tại nước đó để được bảo hộ công dân và giới thiệu luật sư địa phương.
Câu hỏi thường gặp
Người Việt phạm tội ở nước ngoài về nước có bị xử không?
Có thể. Bộ luật Hình sự 2015 quy định công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài mà bộ luật quy định là tội phạm thì có thể bị truy cứu tại Việt Nam. Việc truy cứu thực tế phụ thuộc chứng cứ, tình trạng xử lý ở nước ngoài và hợp tác tư pháp.
Người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam bị xử theo luật nước nào?
Theo luật Việt Nam, vì Bộ luật Hình sự áp dụng cho mọi hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam. Ngoại lệ là người được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao, lãnh sự; vấn đề của họ giải quyết theo điều ước, tập quán quốc tế hoặc đường ngoại giao.
Việt Nam có dẫn độ công dân của mình cho nước khác không?
Không. Hiến pháp 2013 quy định công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác. Khi công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài rồi về nước, việc xử lý có thể được đặt ra tại Việt Nam trên cơ sở hợp tác tư pháp.
Bị lừa đảo bởi người ở nước ngoài thì cơ quan Việt Nam có thụ lý không?
Có cơ sở để thụ lý, vì hậu quả xảy ra tại Việt Nam và bộ luật cho phép truy cứu người nước ngoài xâm hại quyền lợi của công dân Việt Nam. Việc truy bắt người ở nước ngoài thì phụ thuộc vào hợp tác quốc tế nên thường kéo dài.
Hành vi không phải tội ở nước sở tại thì có bị truy cứu ở Việt Nam không?
Câu chữ Điều 6 chỉ đòi hỏi hành vi là tội theo Bộ luật Hình sự Việt Nam, nên về nguyên tắc vẫn có thể bị truy cứu. Tuy nhiên chữ có thể cho thấy việc truy cứu không tự động, còn phụ thuộc nhiều yếu tố thực tế.
Gặp rắc rối pháp lý ở nước ngoài nên liên hệ ai đầu tiên?
Bạn nên liên hệ cơ quan đại diện Việt Nam như đại sứ quán, tổng lãnh sự quán tại nước đó để được bảo hộ công dân, hỗ trợ phiên dịch, thông báo cho gia đình và giới thiệu luật sư địa phương, đồng thời giữ liên lạc với người thân trong nước.