Quyền sở hữu gồm ba quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản (Điều 158 Bộ luật Dân sự 2015). Chủ sở hữu là người có đủ cả ba quyền đối với tài sản của mình. Người thuê nhà có quyền chiếm hữu và sử dụng căn nhà, nhưng không có quyền bán; người được uỷ quyền bán xe có quyền định đoạt thay chủ, nhưng không phải chủ.
Bài giảng từng quyền bằng ví dụ, rồi đi tiếp những câu hỏi nền mà người tự học luật hay vướng: có bao nhiêu hình thức sở hữu, khi nào mình chính thức thành chủ, tài sản hư hỏng giữa chừng thì ai chịu, và chủ sở hữu bị giới hạn ở đâu. Chuyện chiếm hữu ngay tình, đòi lại tài sản, quyền với bất động sản liền kề là những chế định chuyên sâu, ở đây chỉ nhắc để bạn biết vị trí của chúng trong bức tranh chung.
Ba quyền năng của chủ sở hữu
Quyền chiếm hữu: nắm giữ, chi phối tài sản. Chủ sở hữu được nắm giữ, quản lý tài sản theo ý mình, miễn không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Chiếm hữu có thể trực tiếp (bạn cất chiếc xe trong nhà) hoặc gián tiếp (bạn cho người khác thuê xe, người thuê đang giữ nhưng bạn vẫn là chủ). Lưu ý: "chiếm hữu" trong Bộ luật còn là một tình trạng thực tế độc lập — người không phải chủ vẫn có thể đang chiếm hữu, có căn cứ hoặc không có căn cứ.
Quyền sử dụng: khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức. Bạn được ở trong nhà, chạy chiếc xe, trồng cây trên đất, nhận tiền cho thuê. Quyền sử dụng có thể giao cho người khác qua hợp đồng thuê, mượn hoặc theo quy định của luật. Khi đó người được giao chỉ sử dụng trong phạm vi được giao, đúng công dụng, đúng thời hạn.
Quyền định đoạt: chuyển giao quyền sở hữu, từ bỏ, tiêu dùng hoặc tiêu huỷ. Đây là quyền "nặng" nhất: bán, tặng cho, đổi, để lại thừa kế, góp vốn, vứt bỏ. Người không phải chủ chỉ định đoạt được khi có uỷ quyền của chủ hoặc theo quy định của luật (ví dụ cơ quan thi hành án bán đấu giá tài sản đã kê biên).
Ba quyền tách rời được. Chủ có thể giữ quyền định đoạt nhưng giao quyền chiếm hữu và sử dụng cho người khác trong nhiều năm, như cho thuê dài hạn. Bộ luật còn ghi nhận các "quyền khác đối với tài sản" như quyền hưởng dụng, quyền bề mặt, quyền đối với bất động sản liền kề — nghĩa là người khác có quyền khá rộng trên tài sản của chủ, ngay cả khi chủ đổi ý.
Các hình thức sở hữu theo Bộ luật Dân sự 2015
Bộ luật Dân sự 2015 rút gọn còn ba hình thức sở hữu (trước đây Bộ luật năm 2005 chia nhiều hình thức hơn theo chủ thể). Bảng dưới đây giúp bạn xếp đúng chỗ những tình huống hay gặp:
| Hình thức | Ai là chủ | Ví dụ | Điểm cần nhớ |
|---|---|---|---|
| Sở hữu toàn dân | Toàn dân, Nhà nước đại diện và thống nhất quản lý | Đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản, vùng biển, vốn và tài sản nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp | Người dân không sở hữu đất mà có quyền sử dụng đất |
| Sở hữu riêng | Một cá nhân hoặc một pháp nhân | Xe của anh A, nhà xưởng của công ty B | Pháp nhân có nhiều thành viên vẫn là sở hữu riêng của pháp nhân, không phải sở hữu chung của các thành viên |
| Sở hữu chung | Nhiều chủ thể cùng sở hữu một tài sản | Tài sản chung vợ chồng, nhà của anh em cùng mua, phần sở hữu chung trong nhà chung cư | Chia thành sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất; có thể phân chia hoặc không phân chia được |
Sở hữu chung là mảnh màu mỡ nhất cho tranh chấp: ai được quyết định, có cần cả nhà ký không, một người nợ thì chủ nợ có được đòi chia không. Đó là các câu hỏi thực hành, được bàn kỹ ở những bài chuyên về tài sản chung. Ở mức nền, bạn chỉ cần nhớ: sở hữu chung theo phần thì mỗi người có một phần xác định; sở hữu chung hợp nhất (như tài sản chung của vợ chồng) thì phần của mỗi người chưa được xác định cho đến khi chia.
Khi nào bạn chính thức trở thành chủ sở hữu
Điều 161 đặt thứ tự ưu tiên: thời điểm xác lập quyền sở hữu được tính theo luật chuyên ngành nếu có; không có thì theo thoả thuận của các bên; không có thoả thuận thì là thời điểm tài sản được chuyển giao. "Chuyển giao" được hiểu là bên có quyền hoặc người đại diện của họ đã chiếm hữu tài sản.
Ví dụ giả định thứ nhất: bạn mua một chiếc tủ lạnh ở cửa hàng, trả tiền xong, hẹn chiều mai giao. Không có thoả thuận gì khác thì đến khi tủ được giao, bạn mới là chủ. Ví dụ giả định thứ hai: bạn mua đất, hợp đồng đã công chứng. Luật Đất đai quy định việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính — tức là quy định chuyên ngành thắng thoả thuận của hai bên. Trước thời điểm đó, bạn có quyền yêu cầu người bán thực hiện tiếp nghĩa vụ, nhưng chưa là người có quyền đối với thửa đất.
Với xe máy, ô tô, câu chuyện có lớp riêng: việc đăng ký xe là thủ tục hành chính để quản lý phương tiện, còn quyền sở hữu xe giữa các bên mua bán được xác định theo hợp đồng và việc giao xe. Thực tế vẫn có nhiều tranh chấp vì xe mua không sang tên, nên bạn nên làm thủ tục đăng ký sang tên theo quy định hiện hành ngay sau khi mua.
Tài sản hư hỏng, mất mát giữa chừng: ai chịu rủi ro
Điều 162 nêu nguyên tắc ngắn gọn: chủ sở hữu phải chịu rủi ro về tài sản thuộc sở hữu của mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác. "Rủi ro" ở đây là tài sản bị mất, hư hỏng do sự kiện không ai có lỗi: cháy do sét đánh, lũ cuốn, hỏng do dịch bệnh.
Gắn với thời điểm xác lập quyền sở hữu ở phần trên, nguyên tắc này trở nên rất thực tế. Ví dụ giả định: bạn đã trả đủ tiền cho một lô cây giống nhưng người bán vẫn giữ trong vườn chờ bạn chở về; đêm đó mưa đá làm dập nát cả lô. Nếu chưa có thoả thuận khác và tài sản chưa được giao, rủi ro vẫn thuộc về người bán, vì họ còn là chủ. Ngược lại, nếu cây đã chuyển sang vườn của bạn, rủi ro chuyển sang bạn dù tiền chưa trả hết.
Hợp đồng mua bán có quy định riêng về thời điểm chịu rủi ro, và các bên được thoả thuận khác. Với hàng hoá vận chuyển, thời điểm chịu rủi ro còn phụ thuộc cách giao hàng đã thống nhất. Bài học thực hành: với giao dịch giá trị lớn, ghi rõ "ai chịu rủi ro từ lúc nào" vào giấy tờ, đặc biệt khi tiền trả trước mà hàng giao sau, hoặc ngược lại.
Chủ sở hữu bị giới hạn ở đâu
Quyền sở hữu rộng nhưng không tuyệt đối. Điều 160 và các điều tiếp theo đặt ra những giới hạn mà chủ nào cũng phải tôn trọng:
- Không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Nhà của bạn, nhưng xây lấn ra ngõ hay làm nứt nhà bên cạnh thì phải chịu trách nhiệm.
- Tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường. Chủ tài sản gây ô nhiễm phải chấm dứt hành vi, khắc phục và bồi thường.
- Tôn trọng trật tự, an toàn xã hội. Chủ nuôi vật nuôi, sử dụng loa đài, vật liệu dễ cháy trong nhà vẫn chịu các quy tắc chung của khu dân cư.
- Tôn trọng quyền của chủ bất động sản liền kề. Thoát nước, lối đi, mắc đường dây là những quyền mà chủ đất bên cạnh có thể yêu cầu trong giới hạn luật định.
- Tuân theo trình tự khi luật quy định. Bán nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tặng cho xe phải làm đúng hình thức, thủ tục; định đoạt sai hình thức có thể làm giao dịch bị vô hiệu.
- Chịu sự trưng mua, trưng dụng, thu hồi theo luật. Trong trường hợp thật cần thiết vì quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, Nhà nước có thể trưng mua, trưng dụng tài sản và phải bồi thường theo giá thị trường; thu hồi đất có chế định riêng trong Luật Đất đai.
Những giới hạn này không làm quyền sở hữu yếu đi; chúng là điều kiện để quyền của người này không đè lên quyền của người khác. Khi bị người khác xâm phạm, chủ sở hữu có các phương thức bảo vệ: tự bảo vệ, yêu cầu trả lại tài sản, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở, yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Phân biệt quyền sở hữu với những thứ dễ lẫn
Một số cặp khái niệm hay bị dùng lẫn trong đời sống, dẫn tới những quyết định sai. Đứng tên và làm chủ: đứng tên trên giấy chứng nhận là căn cứ quan trọng để suy đoán ai là chủ, nhưng không phải luôn trùng với thực tế. Có trường hợp tài sản là tài sản chung vợ chồng dù giấy chỉ ghi một người, hoặc người đứng tên chỉ là đứng tên hộ. Những trường hợp này phải chứng minh, và rủi ro rất lớn.
Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu đất: người dân không sở hữu đất; thứ bạn mua bán là quyền sử dụng đất. Nhà, cây lâu năm, công trình trên đất mới là tài sản bạn sở hữu. Vì vậy người ta nói "sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở".
Đang giữ và là chủ: người đang giữ chiếc xe chưa chắc là chủ; có thể là người mượn, người thuê, người nhặt được, thậm chí người chiếm giữ trái phép. Luật suy đoán người chiếm hữu là ngay tình, nhưng suy đoán này có thể bị bác bỏ. Khi mua tài sản đã qua sử dụng, nhất là tài sản có đăng ký, hãy kiểm người bán có phải chủ không trước khi trả tiền.
Nắm chắc ba quyền năng, ba hình thức, thời điểm thành chủ và nguyên tắc chịu rủi ro là đủ để bạn đọc tiếp những chế định chi tiết hơn về sở hữu mà không bị lạc.
Câu hỏi thường gặp
Người thuê nhà có quyền gì đối với căn nhà?
Người thuê có quyền chiếm hữu và sử dụng căn nhà trong thời hạn và phạm vi hợp đồng cho phép, kể cả quyền yêu cầu chủ nhà không cản trở việc sử dụng đó. Người thuê không có quyền định đoạt: không được bán, thế chấp, và chỉ được cho thuê lại khi chủ nhà đồng ý theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Pháp nhân có nhiều thành viên thì tài sản là sở hữu chung hay sở hữu riêng?
Là sở hữu riêng của pháp nhân. Thành viên góp vốn thì vốn góp chuyển thành tài sản của pháp nhân, thành viên nhận lại phần vốn góp hay cổ phần — một loại quyền tài sản. Vì vậy thành viên không được tự ý lấy tài sản của công ty về dùng như tài sản chung của mình.
Mua đồ trả góp, khi nào mình thành chủ?
Phụ thuộc thoả thuận. Bộ luật Dân sự cho phép bên bán bảo lưu quyền sở hữu cho đến khi bên mua trả đủ tiền; nếu hợp đồng có điều khoản này, bạn chưa là chủ dù đang dùng món đồ. Không có thoả thuận bảo lưu thì quyền sở hữu thường chuyển khi giao tài sản, trừ tài sản mà luật chuyên ngành quy định khác.
Từ bỏ quyền sở hữu thì tài sản thuộc về ai?
Người từ bỏ chấm dứt quyền sở hữu của mình. Động sản bị vứt bỏ có thể trở thành tài sản vô chủ và người khác có thể xác lập quyền theo điều kiện luật định. Bất động sản vô chủ thuộc về Nhà nước. Tài sản mà việc vứt bỏ gây hại cho môi trường, trật tự thì vẫn phải tuân thủ quy định về xử lý chất thải.
Chủ nhà có được vào nhà đang cho thuê để kiểm tra không?
Chủ nhà vẫn là chủ sở hữu nhưng đã giao quyền chiếm hữu, sử dụng cho người thuê, nên không thể tự ý vào bất cứ lúc nào. Việc kiểm tra nên theo thoả thuận trong hợp đồng, có báo trước và có mặt người thuê; vào chỗ ở của người khác trái phép còn có thể vi phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.
Nhà nước trưng dụng tài sản có phải bồi thường không?
Có. Bộ luật Dân sự và luật chuyên ngành quy định khi trưng mua, trưng dụng tài sản trong trường hợp thật cần thiết vì quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia hoặc tình trạng khẩn cấp, chủ sở hữu được thanh toán hoặc bồi thường; mức và cách tính theo luật về trưng mua, trưng dụng hiện hành.