Bộ luật Hình sự 2015 chia tội phạm thành bốn loại theo tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Thước đo để xếp loại là mức cao nhất của khung hình phạt mà bộ luật quy định cho hành vi đó: đến 3 năm tù (hoặc phạt tiền, cải tạo không giam giữ), trên 3 đến 7 năm, trên 7 đến 15 năm, và trên 15 đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Nghe thì giống một bảng xếp hạng khô khan, nhưng mức loại tội phạm kéo theo rất nhiều hệ quả thực tế: người 14 tuổi có phải chịu trách nhiệm không, sau bao nhiêu năm thì hết thời hiệu, có thể bị tạm giam không, có được hoà giải để bỏ qua không. Bài này giải thích cách phân loại và những chỗ mức loại thay đổi số phận của một vụ việc.
Bốn loại tội phạm và thước đo phân loại
Theo Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 (đã sửa đổi năm 2017), bốn loại tội phạm được xác định như sau.
| Loại tội phạm | Tính chất, mức độ nguy hiểm | Mức cao nhất của khung hình phạt |
|---|---|---|
| Ít nghiêm trọng | Không lớn | Phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 3 năm |
| Nghiêm trọng | Lớn | Từ trên 3 năm đến 7 năm tù |
| Rất nghiêm trọng | Rất lớn | Từ trên 7 năm đến 15 năm tù |
| Đặc biệt nghiêm trọng | Đặc biệt lớn | Từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình |
Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện cũng được xếp vào bốn loại này, căn cứ vào mức hình phạt bộ luật quy định cho cùng hành vi khi do cá nhân thực hiện.
Lưu ý chữ "mức cao nhất của khung": đây là mức tối đa bộ luật cho phép với khung đó, không phải mức án mà người phạm tội thực sự nhận.
Phân loại theo khung, không theo tội danh và không theo bản án
Chỗ người đọc hay hiểu sai nhất là tưởng mỗi tội danh chỉ có một mức loại. Thực ra phần lớn tội trong bộ luật có nhiều khung: một khung cơ bản và một hoặc vài khung tăng nặng, mỗi khung có mức tối đa riêng. Cùng một tội danh, vụ này rơi vào khung cơ bản thì có thể là tội ít nghiêm trọng, vụ khác có tình tiết định khung tăng nặng thì thành tội rất nghiêm trọng.
Ví dụ giả định để thấy cơ chế (không gắn với số liệu của tội cụ thể nào): một tội có khung cơ bản tối đa 3 năm tù, khung hai tối đa 7 năm khi có tình tiết dùng hung khí, khung ba tối đa 15 năm khi gây hậu quả rất nghiêm trọng. Người phạm tội ở khung một đang phạm tội ít nghiêm trọng, ở khung ba là tội rất nghiêm trọng, dù tên tội ghi trong cáo trạng giống hệt.
Phân loại cũng không phụ thuộc mức án toà tuyên. Một người bị xét xử theo khung có mức tối đa 15 năm, sau khi cân nhắc tình tiết giảm nhẹ được tuyên 5 năm tù, thì tội của họ vẫn là tội rất nghiêm trọng. Điều này quan trọng vì nhiều chế định khác, như thời hiệu hay điều kiện xoá án tích, dựa vào loại tội hoặc vào mức án theo những cách khác nhau; nhầm hai thứ là tính sai cả chuỗi.
Mức loại tội phạm quyết định tuổi chịu trách nhiệm
Từ đủ 16 tuổi trở lên. Người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội mà bộ luật có quy định khác.
Từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi. Người trong độ tuổi này chỉ chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, và chỉ với những tội được liệt kê cụ thể trong bộ luật. Vì vậy, với một người 15 tuổi, câu hỏi "hành vi rơi vào khung nào" gần như quyết định có bị truy cứu hay không.
Chuẩn bị phạm tội ở tuổi 14–16. Bộ luật chỉ truy cứu người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi về hành vi chuẩn bị phạm tội đối với một số rất ít tội đặc biệt, như giết người hoặc cướp tài sản. Đây là chỗ mức loại và danh sách tội đan vào nhau.
Không chịu trách nhiệm không có nghĩa là không có hậu quả. Trẻ chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự vẫn có thể bị áp dụng biện pháp giáo dục theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, và cha mẹ có thể phải bồi thường thiệt hại theo Bộ luật Dân sự.
Mức loại tội phạm quyết định thời hiệu truy cứu
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là khoảng thời gian mà khi hết hạn, người phạm tội không bị truy cứu nữa. Bộ luật gắn thời hiệu với đúng bốn loại tội phạm: 5 năm với tội ít nghiêm trọng, 10 năm với tội nghiêm trọng, 15 năm với tội rất nghiêm trọng, 20 năm với tội đặc biệt nghiêm trọng, tính từ ngày tội phạm được thực hiện.
Thời hiệu có những quy tắc riêng: nếu trong thời hạn đó người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà bộ luật quy định mức cao nhất của khung trên 1 năm tù, hoặc cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì cách tính thời hiệu thay đổi. Một số nhóm tội nặng nhất, như các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh, không áp dụng thời hiệu. Cách tính thời hiệu chi tiết, các trường hợp gián đoạn và tính lại là một chủ đề riêng.
Điều cần rút ra ở đây: vì thời hiệu phụ thuộc loại tội, mà loại tội phụ thuộc khung, nên tranh luận về việc hành vi rơi vào khung nào có thể quyết định cả việc vụ án còn được giải quyết hay không. Một vụ việc xảy ra đã bảy năm, nếu thuộc tội ít nghiêm trọng thì đã hết thời hiệu, nếu thuộc tội nghiêm trọng thì vẫn còn.
Những chế định tố tụng và hình phạt gắn với mức loại
Ngoài tuổi và thời hiệu, loại tội phạm còn là điều kiện của nhiều chế định khác trong cả Bộ luật Hình sự lẫn Bộ luật Tố tụng hình sự. Một số ví dụ thường gặp:
- Tạm giam: Bộ luật Tố tụng hình sự cho phép tạm giam bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng; với tội nghiêm trọng và ít nghiêm trọng thì chỉ trong những trường hợp có thêm điều kiện, như bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hay cản trở điều tra. Thời hạn tạm giam để điều tra cũng dài ngắn khác nhau theo loại tội.
- Thời hạn điều tra, truy tố: thời hạn mà cơ quan tiến hành tố tụng có để giải quyết vụ án được quy định riêng theo từng loại tội phạm.
- Miễn trách nhiệm hình sự khi người bị hại tự nguyện hoà giải: bộ luật cho phép xem xét miễn với người phạm tội ít nghiêm trọng, hoặc tội nghiêm trọng do vô ý, gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, tài sản của người khác, khi người bị hại hoặc đại diện của họ tự nguyện hoà giải và đề nghị miễn.
- Án treo, cải tạo không giam giữ: điều kiện áp dụng nhiều hình phạt và biện pháp nhẹ hơn tù giam gắn với mức án hoặc loại tội; phần hình phạt được trình bày ở danh mục riêng về hình phạt.
- Người dưới 18 tuổi phạm tội: nhiều quy định ưu tiên, như miễn trách nhiệm hay áp dụng biện pháp giám sát giáo dục, được thiết kế theo loại tội.
Mỗi chế định trên có điều kiện chi tiết riêng và văn bản hướng dẫn đi kèm. Khi gặp việc cụ thể, cần đối chiếu điều luật hiện hành chứ không suy ra chỉ từ mức loại.
Cách tự xác định mức loại khi đọc một điều luật
Khi mở một điều luật về một tội cụ thể, bạn sẽ thấy nó chia thành các khoản. Khoản 1 thường mô tả hành vi cơ bản và khung hình phạt cơ bản; các khoản sau bắt đầu bằng cụm "phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây" và liệt kê tình tiết, kèm khung nặng hơn. Khoản cuối thường là hình phạt bổ sung, không dùng để phân loại.
Muốn biết một khoản thuộc loại tội gì, bạn nhìn vào con số lớn nhất trong khung của khoản đó rồi so với bốn ngưỡng 3, 7, 15, 20 năm. Khung "phạt tù từ 2 năm đến 7 năm" có mức cao nhất 7 năm, nên là tội nghiêm trọng. Khung "từ 7 năm đến 15 năm" là rất nghiêm trọng. Khung có tù chung thân hoặc tử hình thì là đặc biệt nghiêm trọng.
Hai cái bẫy cần tránh. Thứ nhất, đừng lấy mức thấp nhất của khung để phân loại. Thứ hai, đừng lấy khung của khoản nặng nhất áp cho mọi trường hợp của tội đó; mỗi vụ chỉ rơi vào một khoản tuỳ tình tiết chứng minh được. Và nhớ rằng bộ luật đã được sửa đổi nhiều lần, mức khung của một số tội có thể đã thay đổi; khi cần con số chính xác, hãy đối chiếu văn bản hợp nhất mới nhất.
Vì sao người không học luật cũng nên biết bốn mức này
Với người dân, bốn mức loại tội phạm là một cách đọc tin tức tỉnh táo hơn. Khi thấy dòng "khởi tố về tội X", bạn hiểu rằng mức nặng nhẹ chưa xác định chỉ bằng tên tội; phải đợi xem hành vi bị truy tố theo khoản nào. Khi nghe ai đó nói "chuyện này mười năm rồi, hết thời hiệu", bạn biết câu đó chỉ đúng nếu tội thuộc loại ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng.
Với người làm nhân sự, kế toán, chủ doanh nghiệp nhỏ, mức loại giúp hình dung rủi ro khi một sai phạm trong công việc có nguy cơ chuyển thành vụ án: tội ít nghiêm trọng có nhiều lối thoát hơn như hoà giải, khắc phục hậu quả để được miễn; tội rất nghiêm trọng thì gần như chắc chắn đi hết quy trình tố tụng.
Còn với gia đình có người đang bị điều tra, hiểu mức loại giúp đặt câu hỏi đúng với luật sư: hành vi đang bị xem xét theo khoản nào, có căn cứ để đề nghị áp dụng khoản nhẹ hơn không, biện pháp ngăn chặn đang áp dụng có tương xứng với loại tội không. Những câu hỏi đó cần người làm nghề trả lời trên hồ sơ cụ thể.
Câu hỏi thường gặp
Bộ luật Hình sự chia tội phạm thành mấy loại?
Bốn loại: tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Thước đo là mức cao nhất của khung hình phạt bộ luật quy định cho hành vi: đến 3 năm tù, trên 3 đến 7 năm, trên 7 đến 15 năm, và trên 15 đến 20 năm, chung thân hoặc tử hình.
Bị tuyên 2 năm tù thì có phải là tội ít nghiêm trọng không?
Không nhất thiết. Loại tội phạm xác định theo mức cao nhất của khung mà hành vi bị xét xử, không theo mức án toà tuyên. Người bị xét xử theo khung tối đa 7 năm nhưng được tuyên 2 năm tù vẫn là phạm tội nghiêm trọng.
Một tội danh có thể vừa là tội ít nghiêm trọng vừa là tội rất nghiêm trọng không?
Có. Phần lớn tội có nhiều khung hình phạt. Vụ việc chỉ có tình tiết cơ bản rơi vào khung nhẹ, vụ việc có tình tiết định khung tăng nặng rơi vào khung nặng, nên cùng một tên tội nhưng loại tội phạm khác nhau.
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo từng loại là bao lâu?
Theo Bộ luật Hình sự 2015, thời hiệu là 5 năm với tội ít nghiêm trọng, 10 năm với tội nghiêm trọng, 15 năm với tội rất nghiêm trọng và 20 năm với tội đặc biệt nghiêm trọng. Có quy định riêng khi phạm tội mới, trốn tránh truy nã và một số nhóm tội không áp dụng thời hiệu.
Người 15 tuổi phạm tội nghiêm trọng có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Theo bộ luật, người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thuộc danh sách tội được liệt kê. Nếu hành vi chỉ thuộc khung tội nghiêm trọng thì không bị truy cứu, nhưng vẫn có thể bị xử lý bằng biện pháp khác.
Muốn biết chính xác khung hình phạt của một tội thì xem ở đâu?
Bạn đọc điều luật quy định tội đó trong văn bản hợp nhất mới nhất của Bộ luật Hình sự, vì bộ luật đã sửa đổi nhiều lần. Văn bản có thể tra trên các cổng thông tin pháp luật chính thức của Nhà nước. Khi áp dụng vào vụ việc cụ thể, nên hỏi luật sư.