Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực từ 1/1/2015, thay Luật Hôn nhân và gia đình 2000. Những thay đổi đáng nhớ nhất: tuổi kết hôn tính theo tuổi tròn (nam từ đủ 20, nữ từ đủ 18), kết hôn giữa người cùng giới tính không còn bị cấm nhưng không được thừa nhận, vợ chồng được chọn chế độ tài sản theo thoả thuận, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được cho phép, con từ đủ 7 tuổi được hỏi nguyện vọng khi cha mẹ ly hôn (trước đây là từ đủ 9 tuổi), và người thân được yêu cầu ly hôn thay cho nạn nhân bạo lực gia đình mất khả năng nhận thức.
Luật hôn nhân không mang tên "bộ luật" nhưng trên thực tế là bộ luật của gia đình: nó điều chỉnh từ lúc hai người kết hôn đến khi chia tài sản, nuôi con, cấp dưỡng. Nhiều người vẫn nhớ quy định theo bản 2000, nhất là về tuổi kết hôn và việc giao con khi ly hôn. Bài này đặt hai bản cạnh nhau, giải thích lý do thay đổi và chỉ ra những chỗ dễ hiểu nhầm.
Bốn đời luật hôn nhân: 1959, 1986, 2000 và 2014
Luật Hôn nhân và gia đình đầu tiên được ban hành năm 1959, với mục tiêu xoá bỏ chế độ hôn nhân phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, xác lập nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng. Bản thứ hai năm 1986, có hiệu lực từ đầu năm 1987, áp dụng thống nhất trên cả nước sau thống nhất đất nước.
Bản thứ ba, Luật 2000, có hiệu lực từ 1/1/2001, ra đời trong giai đoạn kinh tế thị trường phát triển, khi tài sản của vợ chồng đã phức tạp hơn nhiều và quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tăng mạnh. Đi kèm Luật 2000 là một mốc mà đến nay vẫn được nhắc: những cặp chung sống như vợ chồng trước ngày 3/1/1987 mà chưa đăng ký kết hôn vẫn được công nhận là vợ chồng, còn những cặp chung sống sau mốc đó phải đăng ký trong thời hạn chuyển tiếp mới được công nhận, quá hạn mà không đăng ký thì không phát sinh quan hệ vợ chồng.
Bản thứ tư, Luật 2014, có hiệu lực từ 1/1/2015, gọn hơn về số chương nhưng nhiều điều hơn. Nó ra đời sau Hiến pháp 2013, chịu ảnh hưởng của tinh thần tôn trọng quyền con người và đời sống riêng tư, đồng thời phải giải quyết những vấn đề mới mà bản 2000 chưa có câu trả lời: sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ, thoả thuận tài sản trước hôn nhân, bạo lực gia đình.
Bảng so sánh nhanh những điểm đổi lớn
Bảng dưới gom những thay đổi chắc chắn, được hỏi nhiều nhất. Mỗi dòng chỉ nêu tinh thần chính; điều kiện chi tiết nằm trong điều luật và văn bản hướng dẫn.
| Nội dung | Luật 2000 | Luật 2014 |
|---|---|---|
| Tuổi kết hôn | Nam từ 20 tuổi, nữ từ 18 tuổi trở lên, thường hiểu là bước sang tuổi | Nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên |
| Người cùng giới tính | Cấm kết hôn | Không còn trong danh sách cấm; Nhà nước không thừa nhận hôn nhân cùng giới |
| Chế độ tài sản | Chỉ có chế độ theo luật định | Được chọn theo luật định hoặc theo thoả thuận lập trước khi kết hôn |
| Mang thai hộ | Chưa quy định | Cho phép vì mục đích nhân đạo; cấm vì mục đích thương mại |
| Nguyện vọng của con khi ly hôn | Xem xét khi con từ đủ 9 tuổi | Xem xét khi con từ đủ 7 tuổi |
| Người yêu cầu ly hôn | Vợ, chồng hoặc cả hai | Thêm cha, mẹ, người thân thích trong trường hợp đặc biệt |
| Hạn chế quyền ly hôn của chồng | Vợ có thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng | Vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi |
Phần lớn thay đổi trong bảng xuất phát từ những vướng mắc có thật của mười bốn năm áp dụng Luật 2000. Ví dụ, cách hiểu "từ 18 tuổi" khiến cơ quan đăng ký các nơi làm khác nhau, có nơi cho đăng ký khi nữ vừa bước sang tuổi 18, có nơi đợi tròn tuổi.
Kết hôn: tuổi tròn, cùng giới và những hành vi bị cấm
Tuổi kết hôn được viết lại cho hết tranh cãi. Luật 2000 ghi "nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên", và văn bản hướng dẫn thời đó cho phép hiểu là bước sang tuổi đó. Luật 2014 ghi rõ "từ đủ", tức phải tròn tuổi tính theo ngày sinh. Hệ quả: một cô gái 17 tuổi 8 tháng, theo cách hiểu cũ có thể đã đăng ký được, nay phải chờ tới ngày sinh nhật thứ 18.
Cùng giới: từ cấm sang không thừa nhận. Luật 2000 liệt kê kết hôn giữa những người cùng giới tính vào danh sách cấm. Luật 2014 bỏ điều cấm đó, thay bằng quy định Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính. Khác biệt nằm ở hậu quả: hai người cùng giới tổ chức lễ cưới hoặc chung sống không còn bị coi là vi phạm điều cấm, nhưng cũng không được đăng ký kết hôn và không phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật.
Danh sách hành vi bị cấm dài hơn. Luật 2014 giữ các điều cấm đã có từ bản 2000 như tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo, yêu sách của cải trong cưới hỏi, và bổ sung hoặc viết rõ hơn những hành vi mới: mang thai hộ và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính, bạo lực gia đình, lợi dụng quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động hoặc trục lợi. Luật mới cũng giải thích thế nào là kết hôn giả tạo, ví dụ kết hôn chỉ để được nhập quốc tịch, xuất cảnh, hưởng chế độ ưu đãi mà không nhằm xây dựng gia đình.
Tài sản vợ chồng: thêm lựa chọn thoả thuận
Dưới Luật 2000, mọi cặp vợ chồng đều chịu chung một chế độ tài sản do luật định: tài sản tạo ra trong thời kỳ hôn nhân về nguyên tắc là tài sản chung, tài sản có trước khi cưới hoặc được tặng cho, thừa kế riêng là tài sản riêng. Vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong một số trường hợp, nhưng không thể chọn một chế độ khác ngay từ đầu.
Luật 2014 cho phép vợ chồng chọn áp dụng chế độ tài sản theo thoả thuận. Thoả thuận phải được lập trước khi kết hôn, bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, và có hiệu lực từ ngày đăng ký kết hôn. Nội dung có thể xác định tài sản nào là chung, tài sản nào là riêng, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên với từng loại tài sản, cách chia khi chấm dứt chế độ tài sản. Nếu thoả thuận không rõ hoặc bị vô hiệu ở phần nào, phần đó áp dụng chế độ luật định.
Luật 2014 cũng viết rõ hơn về đại diện giữa vợ chồng và bảo vệ nơi ở của gia đình: giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thoả thuận của cả hai; nếu nhà đó là tài sản riêng của một bên thì chủ sở hữu tự giao dịch được nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng. Chế độ tài sản chi tiết, cách chia tài sản chung và nghĩa vụ trả nợ có các bài riêng trong danh mục Luật Hôn nhân và gia đình của trang.
Ly hôn và con cái: tuổi hỏi ý kiến hạ xuống, người được yêu cầu mở rộng
Con từ đủ 7 tuổi được hỏi nguyện vọng. Khi cha mẹ ly hôn mà không thoả thuận được ai nuôi con, toà quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dựa trên quyền lợi mọi mặt của con. Luật 2000 yêu cầu xem xét nguyện vọng của con từ đủ 9 tuổi; Luật 2014 hạ xuống từ đủ 7 tuổi. Nguyện vọng của con là một yếu tố toà phải xem xét, không phải yếu tố quyết định duy nhất.
Con dưới 36 tháng tuổi. Cả hai bản đều ưu tiên giao con nhỏ cho mẹ trực tiếp nuôi. Luật 2014 viết theo tháng tuổi, con dưới 36 tháng được giao cho mẹ, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, hoặc cha mẹ có thoả thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Người thân được yêu cầu ly hôn thay. Luật 2014 cho phép cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu toà giải quyết ly hôn khi một bên vợ hoặc chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ gây ra, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thần. Dưới Luật 2000, người này bị kẹt trong cuộc hôn nhân vì không tự yêu cầu được.
Bảo vệ người vợ vừa sinh con. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Luật 2014 bổ sung chữ "sinh con" để khép kín khoảng thời gian dễ tổn thương nhất. Quy định này chỉ hạn chế người chồng; người vợ vẫn có quyền yêu cầu ly hôn.
Mang thai hộ và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ: phần hoàn toàn mới
Luật 2000 gần như im lặng trước những tiến bộ y học trong sinh sản. Luật 2014 dành hẳn một nhóm quy định cho việc xác định cha mẹ khi sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và cho mang thai hộ. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được cho phép với cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con kể cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền. Người mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ và đáp ứng một số điều kiện khác. Mang thai hộ vì mục đích thương mại bị cấm.
Đi cùng, Bộ luật Hình sự 2015 bổ sung tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại. Đây là ví dụ rõ về cách hai bộ luật thay đổi ăn khớp với nhau: luật gia đình mở một cánh cửa có điều kiện, luật hình sự chặn đường lạm dụng.
Vì điều kiện mang thai hộ khá chặt và liên quan cả thủ tục y tế lẫn thoả thuận giữa các bên, người đang cân nhắc nên đọc trực tiếp quy định hiện hành và trao đổi với cơ sở y tế được phép thực hiện kỹ thuật này.
Việc xảy ra trước năm 2015 áp dụng luật nào
Luật 2014 có điều khoản chuyển tiếp với tinh thần chung: quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày luật có hiệu lực thì áp dụng pháp luật tại thời điểm xác lập để giải quyết; những sự kiện xảy ra sau ngày 1/1/2015, như việc ly hôn và giao con, thường được xem xét theo luật mới. Ví dụ giả định: một cặp vợ chồng đăng ký kết hôn năm 2010 không thể chọn lại chế độ tài sản theo thoả thuận, vì thoả thuận chỉ lập được trước khi kết hôn; nhưng nếu ly hôn năm 2020 và con 8 tuổi, theo cách áp dụng phổ biến toà sẽ xem xét nguyện vọng của con theo Luật 2014. Trường hợp cụ thể nên đối chiếu hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao.
Mốc 3/1/1987 cho các cặp chung sống không đăng ký vẫn được giữ trong thực tiễn áp dụng. Người chung sống như vợ chồng sau mốc này mà không đăng ký kết hôn thì không phát sinh quan hệ vợ chồng; quyền lợi của con và việc chia tài sản được giải quyết theo quy định riêng.
Với tranh chấp tài sản lớn, con cái có yếu tố nước ngoài, hoặc hôn nhân xác lập ở những mốc chuyển tiếp, bạn nên nhờ luật sư xem hồ sơ cụ thể. Thủ tục đăng ký kết hôn, cải chính hộ tịch thuộc trang chuyên về hộ tịch; bài này chỉ dừng ở việc luật đã thay đổi gì.
Câu hỏi thường gặp
Nữ 17 tuổi 10 tháng có đăng ký kết hôn được không?
Không. Luật Hôn nhân và gia đình 2014 yêu cầu nữ từ đủ 18 tuổi, tức phải tròn 18 tuổi tính theo ngày sinh. Kết hôn khi một bên chưa đủ tuổi là tảo hôn, thuộc hành vi bị cấm, và cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ từ chối đăng ký.
Hai người cùng giới tổ chức đám cưới có bị phạt không?
Luật 2014 đã bỏ quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, nên việc tổ chức lễ cưới không còn bị coi là vi phạm điều cấm của luật hôn nhân. Tuy nhiên, Nhà nước không thừa nhận hôn nhân cùng giới, nên hai người không đăng ký kết hôn được và không phát sinh quyền, nghĩa vụ vợ chồng.
Thoả thuận tài sản trước hôn nhân có thể lập sau khi cưới không?
Không. Theo Luật 2014, thoả thuận về chế độ tài sản phải lập trước khi kết hôn, bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Sau khi đã kết hôn theo chế độ luật định, vợ chồng chỉ có thể thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo những điều kiện luật đặt ra.
Con 8 tuổi muốn ở với bố thì toà có bắt buộc làm theo không?
Toà phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 7 tuổi, nhưng quyết định cuối cùng dựa trên quyền lợi mọi mặt của con, gồm điều kiện chăm sóc, giáo dục, chỗ ở, thời gian của mỗi bên. Nguyện vọng của con là yếu tố quan trọng nhưng không phải là yếu tố duy nhất.
Vợ đang mang thai có được tự yêu cầu ly hôn không?
Có. Quy định hạn chế chỉ áp dụng với người chồng: chồng không được yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Người vợ trong các giai đoạn này vẫn có quyền yêu cầu ly hôn nếu muốn.
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã được sửa đổi chưa?
Một số luật ban hành sau năm 2015 có điều chỉnh những nội dung liên quan đến hôn nhân và gia đình, ví dụ trong lĩnh vực hộ tịch, cư trú, bạo lực gia đình. Trước khi dựa vào một điều cụ thể cho việc thật, bạn nên tra văn bản hợp nhất mới nhất trên cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật chính thức.