BoLuat.comBộ Luật
Một sự kiện đời người chạm những bộ luật nào

Cho vay và vay tiền giữa người quen chạm những bộ luật nào: dân sự, gia đình, hình sự

Một khoản vay giữa người quen chịu Bộ luật Dân sự về lãi và kỳ hạn, Luật Hôn nhân và gia đình về nợ chung, Bộ luật Hình sự ở cả hai phía, và Bộ luật Tố tụng dân sự.

Close view of an older woman counting banknotes into the open palm of a younger relative at a kitchen table in a village house in Ninh Binh, faces out of frame

Cho vay hay vay tiền giữa người quen là hợp đồng vay tài sản theo Bộ luật Dân sự 2015, được xác lập kể cả khi chỉ nói miệng; lãi suất thoả thuận không vượt quá 20%/năm. Quanh khoản vay ấy còn có Luật Hôn nhân và gia đình (nợ chung vợ chồng), phần thừa kế của Bộ luật Dân sự (nợ của người chết), Bộ luật Hình sự (ở cả phía người cho vay lẫn người vay) và Bộ luật Tố tụng dân sự (khi phải kiện).

Khoản vay giữa người quen thường bắt đầu bằng tin tưởng và kết thúc bằng tranh cãi về "đã nói thế nào". Bài này chỉ ra từng mảng luật mà một khoản vay chạm tới, để người cho vay biết đòi thế nào cho đúng, người vay biết ranh giới giữa "chưa trả được" và hành vi bị xử lý, và cả hai biết vì sao một tờ giấy vay rõ ràng có giá trị hơn mọi lời hứa.

Bản đồ các mảng luật quanh một khoản vay

Phần lớn khoản vay chỉ cần dòng đầu tiên. Các dòng sau xuất hiện khi khoản vay có thêm người thứ ba, khi một bên qua đời, hoặc khi việc đòi nợ vượt ra ngoài khuôn khổ.

Câu hỏiVăn bảnMảng liên quan
Hợp đồng vay có hiệu lực không, lãi tối đa bao nhiêu, trả khi nàoBộ luật Dân sự 2015, phần hợp đồng vay tài sảnHợp đồng
Vợ hoặc chồng có phải trả nợ thay khôngLuật Hôn nhân và gia đình 2014Nghĩa vụ chung về tài sản
Người vay chết thì ai trảBộ luật Dân sự 2015, phần thừa kếThực hiện nghĩa vụ từ di sản
Có người đứng ra bảo lãnh, có tài sản cầm cốBộ luật Dân sự 2015, phần biện pháp bảo đảmBảo lãnh, cầm cố, thế chấp
Lãi quá cao, đòi nợ bằng đe doạBộ luật Hình sự, Luật Đầu tư 2020Trách nhiệm của người cho vay
Vay rồi bỏ trốn, gian dối từ đầuBộ luật Hình sựTrách nhiệm của người vay
Không trả thì kiện ở đâuBộ luật Tố tụng dân sự 2015Khởi kiện, thi hành án

Điều đáng chú ý: Bộ luật Hình sự xuất hiện ở cả hai phía. Pháp luật không đứng về phía người cho vay hay người vay, mà khoanh vùng những hành vi vượt quá một quan hệ dân sự bình thường, dù hành vi đó do ai thực hiện.

Bộ luật Dân sự: hợp đồng vay tài sản vận hành thế nào

Bộ luật Dân sự 2015 định nghĩa hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay, khi đến hạn bên vay phải hoàn trả tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định. Tiền vay thuộc sở hữu của bên vay kể từ khi nhận; bên vay dùng vào việc gì là quyền của họ, trừ khi hai bên thoả thuận mục đích sử dụng.

Luật không bắt buộc hợp đồng vay giữa cá nhân phải lập văn bản. Thoả thuận miệng vẫn có hiệu lực, nhưng khi tranh chấp, người cho vay phải chứng minh. Giấy vay viết tay, tin nhắn thừa nhận nợ, lịch sử chuyển khoản có ghi nội dung là những chứng cứ thường dùng.

Về thời hạn, luật phân biệt vay có kỳ hạn và vay không kỳ hạn. Vay không kỳ hạn, không lãi: bên cho vay có quyền đòi lại bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, bên vay cũng có quyền trả bất cứ lúc nào. Vay có kỳ hạn, có lãi: bên vay muốn trả trước hạn thì phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, trừ khi có thoả thuận khác. Vay có kỳ hạn, không lãi: bên vay được trả trước hạn bất cứ lúc nào, chỉ cần báo trước hợp lý.

Ví dụ giả định: anh Bình cho bạn vay một khoản không lấy lãi, hẹn "khi nào có thì trả". Đây là vay không kỳ hạn. Khi cần tiền, anh Bình có quyền đòi, miễn là báo trước một khoảng thời gian hợp lý để bạn xoay xở; nếu bạn vẫn không trả, từ đó phát sinh nghĩa vụ trả lãi chậm trả.

Lãi suất: trần, phần vượt và lãi chậm trả

Trần 20%/năm. Lãi suất theo thoả thuận giữa các bên không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ khi luật khác có liên quan quy định khác. Trường hợp vượt, mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực; người vay chỉ phải trả phần lãi trong giới hạn.

Có thoả thuận trả lãi nhưng không rõ mức. Nếu hai bên có thoả thuận trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất mà phát sinh tranh chấp, lãi suất được xác định bằng 50% mức trần nói trên tại thời điểm trả nợ. Đây là lý do giấy vay nên ghi mức lãi cụ thể, kể cả khi đó là con số thấp.

Vay không lãi mà chậm trả. Khi đến hạn mà bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ, bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo quy định về lãi chậm trả của Bộ luật Dân sự, trừ khi có thoả thuận khác.

Vay có lãi mà chậm trả. Bên vay phải trả lãi trên nợ gốc theo lãi suất đã thoả thuận tương ứng với thời hạn vay; lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng; còn khoản lãi đến hạn mà chưa trả thì chịu lãi chậm trả theo quy định. Cơ chế này khiến chậm trả kéo dài trở nên tốn kém cho người vay.

Những cách đặt tên khác cho lãi. Ghi khoản lãi thành "phí", "tiền dịch vụ", "tiền cảm ơn" không làm thay đổi bản chất. Khi tranh chấp, toà án nhìn vào bản chất khoản tiền người vay phải trả thêm để xác định có vượt trần hay không.

Luật Hôn nhân và gia đình, thừa kế và bảo lãnh: khi khoản vay có thêm người thứ ba

Người vay đã kết hôn thì câu hỏi đầu tiên là nợ chung hay nợ riêng. Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, vợ chồng chịu trách nhiệm liên đới với giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, và nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản chung là nghĩa vụ chung. Khoản vay để chữa bệnh cho con, sửa nhà đang ở thường là nợ chung; khoản vay để đánh bạc hay tiêu xài riêng của một người thường là nợ riêng.

Khi người vay qua đời, Bộ luật Dân sự quy định người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản. Câu "cha nợ con trả" chỉ đúng trong giới hạn phần tài sản con nhận được từ cha. Không có di sản, hoặc di sản không đủ, người thừa kế không phải dùng tài sản riêng của mình để trả phần còn thiếu.

Nếu có người bảo lãnh, Bộ luật Dân sự cho phép bên cho vay yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay khi người vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, trong phạm vi đã cam kết. Ký bảo lãnh cho người thân là một quyết định tài chính nghiêm túc, không phải chữ ký xã giao.

Cầm cố tài sản như xe, vàng, điện thoại là giao tài sản cho người cho vay giữ để bảo đảm; thế chấp là giữ tài sản nhưng dùng nó bảo đảm. Giấy tờ tuỳ thân như căn cước không phải tài sản nên không phải đối tượng cầm cố; giữ căn cước của người vay làm tin vừa không bảo đảm được gì về pháp lý, vừa có thể vi phạm quy định về quản lý giấy tờ tuỳ thân.

Bộ luật Hình sự ở phía người cho vay: những giới hạn không được vượt

Cho vay lãi nặng. Bộ luật Hình sự có tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, áp dụng khi lãi suất gấp năm lần trở lên mức lãi suất cao nhất theo Bộ luật Dân sự và thu lợi bất chính đến ngưỡng luật định. Dưới ngưỡng hình sự, phần lãi vượt trần vẫn không có hiệu lực về dân sự.

Đòi nợ bằng vũ lực, đe doạ. Dùng vũ lực, đe doạ, giữ người, xúc phạm danh dự để đòi nợ có thể cấu thành các tội như cưỡng đoạt tài sản, bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, cố ý gây thương tích, làm nhục người khác. Việc người kia thật sự nợ tiền không biến những hành vi này thành hợp pháp.

Khủng bố tinh thần qua mạng. Đăng ảnh, thông tin cá nhân của người vay lên mạng xã hội, nhắn tin hàng loạt cho người thân của họ để gây áp lực có thể vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và, ở mức nghiêm trọng, các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm.

Dịch vụ đòi nợ thuê bị cấm. Luật Đầu tư 2020 đưa kinh doanh dịch vụ đòi nợ vào danh mục cấm đầu tư kinh doanh từ ngày 1/1/2021. Thuê nhóm "xử lý nợ" là tự đưa mình vào rủi ro pháp lý cùng với họ.

Bộ luật Hình sự ở phía người vay và con đường tố tụng đúng

Không trả được nợ vì làm ăn thua lỗ, mất việc, không gian dối, không bỏ trốn là tranh chấp dân sự thuần tuý. Người cho vay không thể "đi tố cáo lừa đảo" chỉ vì người vay chậm trả. Ranh giới sang hình sự xuất hiện khi có thủ đoạn gian dối ngay từ đầu để lấy tiền, như bịa ra mục đích vay, dùng giấy tờ giả, có thể là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; hoặc khi vay hợp pháp rồi bỏ trốn, dùng tiền vào mục đích bất hợp pháp dẫn tới không trả, hay có điều kiện mà cố tình không trả, có thể là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Từng tình huống cụ thể được giảng kỹ ở site chuyên về ranh giới vi phạm.

Con đường đúng khi người vay không trả là dân sự. Trước hết là thương lượng, có thể nhờ hoà giải ở cơ sở. Không được thì khởi kiện vụ án dân sự tại toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Vụ việc đơn giản, chứng cứ rõ ràng, bị đơn thừa nhận nợ có thể được giải quyết theo thủ tục rút gọn.

Về thời hiệu, đây là chỗ phức tạp: yêu cầu trả nợ gốc thường được xem là yêu cầu đòi lại tài sản, có cách tính thời hiệu khác với yêu cầu trả lãi hay bồi thường. Hướng dẫn áp dụng có thể thay đổi, nên khi khoản vay đã quá hạn lâu năm, bạn nên hỏi người làm nghề trước khi kết luận còn hay mất quyền đòi.

Có bản án rồi mà người vay vẫn không trả thì bước tiếp theo là yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự. Kê biên tài sản, khấu trừ thu nhập là việc của cơ quan nhà nước, không phải của người cho vay tự làm.

Câu hỏi thường gặp

Cho vay không có giấy tờ thì có đòi được không?

Hợp đồng vay bằng lời nói vẫn có hiệu lực, nhưng người cho vay phải chứng minh khoản vay. Tin nhắn, ghi âm người vay thừa nhận nợ, lịch sử chuyển khoản, người làm chứng là những chứng cứ có thể dùng. Toà án đánh giá tổng hợp các chứng cứ đó.

Lãi suất cho vay giữa cá nhân tối đa là bao nhiêu?

Theo Bộ luật Dân sự 2015, lãi suất thoả thuận không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ khi luật khác quy định khác. Phần lãi vượt mức này không có hiệu lực. Nếu có thoả thuận trả lãi nhưng không ghi rõ mức, lãi được tính bằng một nửa mức trần.

Chồng vay tiền, vợ không biết thì vợ có phải trả không?

Nếu khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, vợ chồng liên đới chịu trách nhiệm dù chỉ một người ký. Nếu khoản vay phục vụ nhu cầu riêng của người chồng, về nguyên tắc đó là nợ riêng, người vợ không phải trả bằng tài sản riêng của mình.

Người vay chết thì con có phải trả nợ không?

Người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ của người chết trong phạm vi di sản mà người chết để lại. Nếu không nhận di sản hoặc di sản không đủ, con không phải dùng tài sản riêng để trả phần thiếu.

Người vay không trả thì có tố cáo lừa đảo được không?

Chỉ khi có dấu hiệu gian dối từ đầu để chiếm đoạt tiền, hoặc vay rồi bỏ trốn, dùng tiền vào mục đích bất hợp pháp dẫn tới không trả. Nếu đơn thuần là chưa có khả năng trả, đây là tranh chấp dân sự và cách đúng là khởi kiện tại toà án.

Giữ căn cước của người vay làm tin có được không?

Căn cước là giấy tờ tuỳ thân, không phải tài sản để cầm cố. Giữ căn cước của người khác không tạo ra bảo đảm pháp lý nào cho khoản vay và có thể vi phạm quy định về quản lý giấy tờ tuỳ thân. Muốn có bảo đảm, các bên dùng cầm cố, thế chấp tài sản hoặc bảo lãnh.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.