Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định tám biện pháp ngăn chặn: giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Chúng không phải hình phạt. Mục đích của chúng là kịp thời ngăn chặn tội phạm, hoặc khi có căn cứ cho thấy người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, sẽ tiếp tục phạm tội, hoặc để bảo đảm thi hành án.
Các biện pháp này chạm trực tiếp tới tự do của một người chưa bị kết án, nên bộ luật đặt ra hai lớp bảo vệ: chỉ được áp dụng khi có căn cứ luật định, và với những biện pháp nặng nhất, phải được viện kiểm sát phê chuẩn. Nắm được logic chung này, bạn sẽ hiểu vì sao cùng là bị can mà người bị tạm giam, người chỉ bị cấm đi khỏi nơi cư trú.
Tám biện pháp ngăn chặn xếp từ nặng đến nhẹ
Bảng dưới sắp xếp theo mức độ hạn chế tự do, kèm đối tượng áp dụng chính và lớp kiểm soát. Thời hạn cụ thể của từng biện pháp phụ thuộc loại tội và giai đoạn tố tụng.
| Biện pháp | Bản chất | Áp dụng với ai | Lớp kiểm soát |
|---|---|---|---|
| Tạm giam | Giam giữ tại trại tạm giam trong thời hạn luật định | Bị can, bị cáo khi có căn cứ luật định | Lệnh của cơ quan điều tra phải được viện kiểm sát phê chuẩn |
| Tạm giữ | Giữ ngắn ngày tại nhà tạm giữ để xác minh | Người bị giữ khẩn cấp, bị bắt quả tang, bị bắt theo truy nã, người tự thú, đầu thú | Gia hạn phải được viện kiểm sát phê chuẩn |
| Bắt người | Hạn chế tự do ngay lập tức | Người phạm tội quả tang, người bị truy nã, bị can, bị cáo để tạm giam, người bị yêu cầu dẫn độ | Bắt để tạm giam phải có lệnh và phê chuẩn theo luật |
| Giữ người trong trường hợp khẩn cấp | Giữ ngay khi chưa kịp làm thủ tục bắt | Người có căn cứ đang chuẩn bị phạm tội nghiêm trọng hoặc vừa phạm tội và có thể bỏ trốn, tiêu huỷ chứng cứ | Viện kiểm sát xét phê chuẩn |
| Tạm hoãn xuất cảnh | Không được ra nước ngoài trong thời hạn nhất định | Người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, bị can, bị cáo khi có căn cứ cho rằng họ bỏ trốn | Quyết định của người có thẩm quyền theo luật |
| Cấm đi khỏi nơi cư trú | Ở yên tại nơi cư trú, có mặt khi được triệu tập | Bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng | Chính quyền xã nơi cư trú quản lý |
| Đặt tiền để bảo đảm | Nộp một khoản tiền làm cam kết | Bị can, bị cáo, dựa trên tính chất vụ án và nhân thân | Khoản tiền bị tịch thu nếu vi phạm |
| Bảo lĩnh | Cá nhân hoặc tổ chức đứng ra bảo đảm | Bị can, bị cáo, thay cho tạm giam | Người bảo lĩnh chịu trách nhiệm nếu để vi phạm |
Bốn biện pháp đầu trực tiếp tước tự do thân thể. Bốn biện pháp sau cho phép người bị buộc tội sống bình thường nhưng chịu ràng buộc. Ba biện pháp bảo lĩnh, đặt tiền, cấm đi khỏi nơi cư trú thường được xem như lựa chọn thay thế tạm giam; điều kiện và thủ tục của chúng được phân tích kỹ ở trang chuyên đề cauthanh.
Logic chung: vì sao phải ngăn chặn khi chưa có bản án
Ở thời điểm điều tra, chưa ai biết chắc người bị nghi ngờ có tội hay không. Vậy tại sao luật lại cho phép hạn chế tự do của họ? Câu trả lời nằm ở rủi ro cho quá trình tố tụng: nếu người bị buộc tội bỏ trốn, tiêu huỷ chứng cứ, đe doạ người làm chứng, hoặc tiếp tục phạm tội, thì vụ án không thể giải quyết đúng và xã hội tiếp tục bị đe doạ.
Vì thế, căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn luôn xoay quanh câu hỏi "có rủi ro gì cho tố tụng hoặc cho xã hội", không phải câu hỏi "người này có đáng bị phạt không". Một bị can bị buộc tội nghiêm trọng nhưng có nơi ở ổn định, hợp tác, không có dấu hiệu bỏ trốn vẫn có thể không bị tạm giam. Ngược lại, một bị can phạm tội nhẹ hơn nhưng đã bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã có thể bị tạm giam.
Nguyên tắc tương xứng đi kèm: chọn biện pháp nhẹ nhất đủ để loại bỏ rủi ro. Khi không còn cần thiết, cơ quan có thẩm quyền phải huỷ bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp nhẹ hơn. Mỗi biện pháp đều có thời hạn và phải được gia hạn đúng thủ tục nếu muốn kéo dài.
Bắt người: bốn trường hợp khác nhau
Bắt người phạm tội quả tang. Người đang thực hiện tội phạm, vừa thực hiện xong thì bị phát hiện, hoặc đang bị đuổi bắt. Đây là trường hợp duy nhất mà bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan công an, viện kiểm sát hoặc chính quyền nơi gần nhất. Người bắt không được đánh đập, xâm phạm thân thể quá mức cần thiết.
Bắt người đang bị truy nã. Người đã có quyết định truy nã. Bất kỳ ai cũng có quyền bắt và giải đến cơ quan có thẩm quyền, tương tự bắt quả tang.
Bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Chỉ người có thẩm quyền mới được ra lệnh. Lệnh bắt của cơ quan điều tra phải được viện kiểm sát phê chuẩn trước khi thi hành. Khi bắt phải đọc lệnh, giải thích lệnh, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt, lập biên bản. Luật hạn chế việc bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp quả tang hoặc truy nã.
Bắt người bị yêu cầu dẫn độ. Áp dụng trong hợp tác quốc tế, khi một nước yêu cầu Việt Nam dẫn độ người đang có mặt trên lãnh thổ Việt Nam theo điều ước hoặc nguyên tắc có đi có lại.
Giữ người trong trường hợp khẩn cấp khác gì bắt người
Giữ người trong trường hợp khẩn cấp được đặt ra cho những tình huống không thể chờ làm thủ tục ra lệnh bắt thông thường. Luật liệt kê các căn cứ: có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại, người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm, và cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn; có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở, nơi làm việc của người bị nghi thực hiện tội phạm, và cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.
Chỉ những người có thẩm quyền theo luật mới được ra lệnh giữ người khẩn cấp. Sau khi giữ, cơ quan có thẩm quyền phải lấy lời khai ngay, rồi hoặc ra quyết định tạm giữ, hoặc trả tự do. Lệnh giữ người, quyết định tạm giữ và tài liệu liên quan phải được gửi cho viện kiểm sát để xét phê chuẩn. Nếu viện kiểm sát không phê chuẩn, người bị giữ phải được trả tự do ngay.
Bạn cần phân biệt chế định này với tình huống người dân giữ một người đang hành hung, trộm cắp: đó là bắt người phạm tội quả tang, được luật cho phép với mọi người, nhưng chỉ ở mức cần thiết để giải giao ngay cho cơ quan có thẩm quyền.
Tạm hoãn xuất cảnh: biện pháp mới của bộ luật 2015
Tạm hoãn xuất cảnh là biện pháp ngăn chặn được bổ sung vào danh sách ở Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Điểm đáng chú ý là nó có thể áp dụng ngay từ giai đoạn người đó mới bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố, khi chưa có quyết định khởi tố bị can, nếu qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ cho rằng họ là người thực hiện hành vi phạm tội và cần ngăn chặn việc bỏ trốn. Biện pháp này cũng áp dụng cho bị can, bị cáo.
Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không được vượt quá thời hạn giải quyết nguồn tin, thời hạn điều tra, truy tố, xét xử tương ứng. Quyết định tạm hoãn xuất cảnh của một số chủ thể phải được viện kiểm sát phê chuẩn trước khi thi hành. Người bị tạm hoãn xuất cảnh thường chỉ biết khi làm thủ tục tại cửa khẩu, vì vậy ai đang liên quan tới một vụ việc hình sự và có kế hoạch ra nước ngoài nên hỏi trước cơ quan đang giải quyết.
Cần phân biệt tạm hoãn xuất cảnh trong tố tụng hình sự với tạm hoãn xuất cảnh vì lý do khác như nợ thuế, đang có nghĩa vụ thi hành án dân sự. Các trường hợp đó có căn cứ và thủ tục riêng theo luật chuyên ngành, không phải biện pháp ngăn chặn.
Khi biện pháp ngăn chặn phải được huỷ bỏ hoặc thay thế
Một biện pháp ngăn chặn không đi theo bị can suốt vụ án. Luật yêu cầu cơ quan có thẩm quyền rà soát và chấm dứt hoặc thay đổi khi điều kiện thay đổi.
- Khi có quyết định không khởi tố vụ án, đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, mọi biện pháp ngăn chặn đã áp dụng phải được huỷ bỏ.
- Khi toà tuyên bị cáo không có tội, miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt, hoặc cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ, hình phạt không phải tù, thì bị cáo đang bị tạm giam phải được trả tự do ngay tại phiên toà, nếu họ không bị tạm giam về một tội khác.
- Khi hết thời hạn mà không được gia hạn hợp lệ, biện pháp đó chấm dứt; người bị tạm giữ, tạm giam phải được trả tự do.
- Khi xét thấy không còn cần thiết, cơ quan có thẩm quyền có thể chủ động huỷ bỏ hoặc thay bằng biện pháp nhẹ hơn, ví dụ chuyển từ tạm giam sang bảo lĩnh.
- Người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn và người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi, huỷ bỏ biện pháp, và khiếu nại nếu cho rằng việc áp dụng không đúng pháp luật.
Câu hỏi thường gặp
Biện pháp ngăn chặn có phải là hình phạt không?
Không. Hình phạt chỉ do toà tuyên trong bản án đối với người đã bị kết tội. Biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án, với người chưa bị kết án, nhằm bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Thời gian bị tạm giữ, tạm giam sau này được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù nếu bị kết án.
Người dân bắt quả tang kẻ trộm có được trói, đánh không?
Luật cho phép mọi người bắt người phạm tội quả tang và giải ngay đến cơ quan có thẩm quyền, nhưng chỉ được dùng sức ở mức cần thiết để khống chế. Đánh đập, làm nhục người bị bắt có thể khiến người bắt phải chịu trách nhiệm, kể cả hình sự. Vấn đề này được phân tích riêng trong bài về gây thương tích khi bắt giữ người phạm tội.
Bị tạm hoãn xuất cảnh thì có được thông báo trước không?
Quyết định tạm hoãn xuất cảnh phải được giao cho người bị áp dụng theo thủ tục luật định. Tuy nhiên trong thực tế, nhiều người chỉ biết khi bị dừng ở cửa khẩu vì không nhận được hoặc không để ý văn bản. Nếu đang liên quan một vụ việc, bạn nên chủ động hỏi cơ quan giải quyết trước khi có kế hoạch đi nước ngoài.
Có thể cùng lúc bị áp dụng hai biện pháp ngăn chặn không?
Một số biện pháp có thể đi cùng nhau khi không mâu thuẫn, ví dụ cấm đi khỏi nơi cư trú kèm tạm hoãn xuất cảnh. Các biện pháp tước tự do như tạm giam thì đương nhiên bao trùm những biện pháp nhẹ hơn. Việc kết hợp phải có căn cứ cho từng biện pháp, không áp dụng chồng chất tuỳ ý.
Ai giám sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn?
Viện kiểm sát kiểm sát việc áp dụng mọi biện pháp ngăn chặn, và trực tiếp phê chuẩn những biện pháp nặng như bắt người để tạm giam, gia hạn tạm giữ, giữ người khẩn cấp. Người bị áp dụng và người bào chữa có quyền khiếu nại; quyết định, hành vi trái pháp luật gây thiệt hại có thể dẫn tới trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.