Trong tố tụng dân sự, người tiến hành tố tụng là những người nhân danh nhà nước giải quyết hoặc kiểm sát vụ việc, gồm Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Toà án ở phía toà án, và Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên ở phía Viện kiểm sát. Người tham gia tố tụng là những người còn lại có mặt trong vụ việc: đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch.
Ranh giới giữa hai nhóm là ranh giới quyền lực: nhóm thứ nhất ra quyết định tố tụng, nhóm thứ hai thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trước những quyết định đó. Bài này đi qua từng nhóm theo cách bộ luật sắp xếp, giải thích vì sao có quy định về từ chối và thay đổi người tiến hành tố tụng, và vì sao người làm chứng không phải là đương sự.
Cơ quan tiến hành tố tụng: toà án và Viện kiểm sát
Bộ luật gọi Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân là hai cơ quan tiến hành tố tụng dân sự. Hai cơ quan có chức năng khác nhau. Toà án giải quyết vụ việc: thụ lý, chuẩn bị, hoà giải, xét xử, ra phán quyết. Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình đó: theo dõi việc thụ lý, tham gia một số phiên toà, phiên họp, phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng và có quyền kháng nghị.
Điểm cần nhớ: Viện kiểm sát trong vụ án dân sự không phải là "bên buộc tội" như trong vụ án hình sự, cũng không đại diện cho nguyên đơn hay bị đơn. Kiểm sát viên ngồi tại phiên toà để bảo đảm pháp luật được tuân thủ, không để tranh luận thay đương sự.
Từ ngày 1/7/2025, hệ thống toà án và Viện kiểm sát được tổ chức lại: không còn toà án và Viện kiểm sát cấp huyện, cấp cao như trước đây; toà án nhân dân khu vực và Viện kiểm sát nhân dân khu vực đảm nhiệm phần lớn việc ở cấp sơ thẩm. Danh sách chức danh tiến hành tố tụng trong bộ luật về cơ bản giữ nguyên, chỉ thay đổi nơi họ làm việc.
Người tiến hành tố tụng: ai làm gì
Bảng dưới tóm tắt vai trò chính ở mức nguyên tắc. Nhiệm vụ, quyền hạn chi tiết được bộ luật quy định riêng cho từng chức danh.
| Chức danh | Thuộc cơ quan | Việc chính trong tố tụng dân sự |
|---|---|---|
| Chánh án | Toà án | Tổ chức công tác giải quyết vụ việc, phân công thẩm phán, quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng trước khi mở phiên toà, giải quyết khiếu nại theo thẩm quyền |
| Thẩm phán | Toà án | Trực tiếp giải quyết vụ việc được phân công: xem xét đơn, thụ lý, thu thập chứng cứ trong phạm vi luật cho phép, hoà giải, chủ toạ hoặc tham gia phiên toà, phiên họp |
| Hội thẩm nhân dân | Toà án | Tham gia hội đồng xét xử sơ thẩm, ngang quyền với thẩm phán khi xét xử và biểu quyết |
| Thẩm tra viên | Toà án | Thẩm tra hồ sơ, kết luận về việc thẩm tra và báo cáo, chủ yếu ở các thủ tục xét lại bản án đã có hiệu lực |
| Thư ký Toà án | Toà án | Phổ biến nội quy phiên toà, kiểm tra người được triệu tập, ghi biên bản phiên toà, phiên họp, lấy lời khai |
| Viện trưởng | Viện kiểm sát | Tổ chức công tác kiểm sát, phân công kiểm sát viên, kháng nghị theo thẩm quyền |
| Kiểm sát viên | Viện kiểm sát | Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết; tham gia phiên toà, phiên họp theo luật định và phát biểu ý kiến |
| Kiểm tra viên | Viện kiểm sát | Nghiên cứu hồ sơ, báo cáo kết quả cho kiểm sát viên, giúp việc kiểm sát |
Hai chức danh thường bị nhầm là thẩm tra viên và kiểm tra viên: tên gần nhau nhưng một bên thuộc toà án, một bên thuộc Viện kiểm sát. Cả hai đều là người tiến hành tố tụng, nên cũng phải từ chối hoặc bị thay đổi khi có căn cứ.
Từ chối và thay đổi người tiến hành tố tụng: bảo vệ sự vô tư
Người cầm quyền lực tố tụng phải không có lợi ích riêng trong vụ việc. Bộ luật quy định những trường hợp người tiến hành tố tụng phải tự từ chối hoặc bị thay đổi, ở mức nguyên tắc gồm: họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự; họ đã tham gia vụ việc với tư cách khác như người làm chứng, người giám định, người phiên dịch; hoặc có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư khi làm nhiệm vụ. Với thẩm phán và hội thẩm còn có thêm trường hợp riêng, như cùng ngồi trong một hội đồng mà là người thân thích với nhau, hoặc đã tham gia giải quyết vụ việc đó ở cấp khác.
Thẩm quyền quyết định thay đổi phụ thuộc thời điểm. Trước khi mở phiên toà, việc thay đổi thẩm phán, hội thẩm do Chánh án quyết định; tại phiên toà, hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến người bị đề nghị thay đổi. Việc thay đổi kiểm sát viên thì do Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định trước phiên toà.
Đề nghị thay đổi là quyền của đương sự, nhưng phải có căn cứ. Không đồng ý với cách thẩm phán hỏi hay nhận định sơ bộ của thẩm phán không phải là căn cứ "không vô tư". Một đề nghị không có căn cứ chỉ làm chậm vụ án; một đề nghị có căn cứ bị bỏ qua lại có thể là lý do để toà cấp trên huỷ bản án.
Người tham gia tố tụng: sáu nhóm và vị trí của từng nhóm
Đương sự. Gồm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án; người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự. Đây là những người mà phán quyết trực tiếp tác động tới quyền và nghĩa vụ, nên họ có nhóm quyền rộng nhất: đưa ra, thay đổi yêu cầu, thoả thuận, kháng cáo.
Người đại diện. Đại diện theo pháp luật, như cha mẹ đại diện cho con chưa thành niên, người đứng đầu đại diện cho pháp nhân; hoặc đại diện theo uỷ quyền. Người đại diện thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng nhân danh đương sự trong phạm vi đại diện; riêng việc ly hôn thì đương sự không được uỷ quyền cho người khác thay mình tham gia, trừ trường hợp luật định.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Có thể là luật sư, trợ giúp viên pháp lý, hoặc người khác đủ điều kiện mà toà chấp nhận. Họ đứng bên cạnh đương sự để giúp về pháp lý, không thay đương sự quyết định yêu cầu.
Người làm chứng. Người biết các tình tiết liên quan đến vụ việc và được toà triệu tập. Họ không có quyền lợi trong kết quả vụ án, chỉ có nghĩa vụ khai báo trung thực và một số quyền như được từ chối khai báo nếu lời khai liên quan bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư, hoặc có hại cho đương sự là người có quan hệ thân thích với mình.
Người giám định. Người có kiến thức chuyên môn được trưng cầu hoặc được đương sự yêu cầu giám định, đưa ra kết luận về vấn đề chuyên môn như chữ ký, chất lượng công trình, tình trạng sức khoẻ. Kết luận giám định là một nguồn chứng cứ, toà vẫn phải đánh giá cùng các chứng cứ khác.
Người phiên dịch. Người dịch từ tiếng nước ngoài hoặc tiếng dân tộc sang tiếng Việt và ngược lại, hoặc người biết dấu hiệu của người khuyết tật nghe, nói, nhìn. Phiên dịch phải dịch trung thực; dịch sai cố ý là hành vi bị xử lý.
Trách nhiệm hai chiều khi làm sai trong tố tụng
Người tiến hành tố tụng nắm quyền lực nhà nước nên bộ luật đặt cho họ trách nhiệm tương xứng: tôn trọng nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân, giữ bí mật theo luật định, từ chối hoặc bị thay đổi khi không bảo đảm vô tư. Người vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tuỳ mức độ. Nếu hành vi trái pháp luật của người tiến hành tố tụng gây thiệt hại, nhà nước bồi thường theo pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước, và người có lỗi có thể phải hoàn trả. Kênh để người dân phản ánh là khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng, tố cáo, và kháng cáo bản án.
Chiều ngược lại, người tham gia tố tụng cũng có nghĩa vụ. Đương sự phải giao nộp chứng cứ, chấp hành quyết định của toà, tôn trọng nội quy phiên toà. Người làm chứng phải khai trung thực. Người giám định phải kết luận khách quan. Người phiên dịch phải dịch đúng. Vi phạm những nghĩa vụ này, như khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, cố ý dịch sai, có thể bị xử phạt hành chính, và ở mức nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.
Hai chiều trách nhiệm này giải thích vì sao bộ luật có hẳn một phần cuối về xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự. Một vụ án công bằng cần cả người xét xử vô tư lẫn người tham gia trung thực; thiếu một trong hai, phán quyết khó đúng dù quy trình có chặt chẽ đến đâu.
Vì sao phân biệt rõ hai nhóm lại quan trọng với người dân
Phân loại này không chỉ để thi cử. Nó trả lời những câu hỏi thực tế khi bạn đi toà:
- Ai có quyền ra quyết định về vụ việc của bạn, và khiếu nại quyết định đó với ai: quyết định của thẩm phán thì khiếu nại lên Chánh án, quyết định của Chánh án thì lên cấp trên theo luật định.
- Ai bạn được đề nghị thay đổi khi nghi ngờ thiếu vô tư: chỉ người tiến hành tố tụng, và một số người tham gia như người giám định, người phiên dịch.
- Ai bạn không nên tiếp xúc riêng để "trình bày thêm": người tiến hành tố tụng. Mọi trình bày nên đi qua văn bản và tại các phiên họp, phiên toà; tiếp xúc riêng có thể làm phát sinh căn cứ thay đổi người tiến hành tố tụng và gây bất lợi cho chính bạn.
- Ai bạn được nhờ hỗ trợ: người bảo vệ quyền lợi, người đại diện theo uỷ quyền trong phạm vi luật cho phép.
- Người thân của bạn được triệu tập với tư cách gì: làm chứng thì không có quyền kháng cáo như đương sự.
Biết mình đang đứng ở nhóm nào và nói chuyện với người ở nhóm nào giúp bạn dùng đúng quyền và tránh những bước có thể bị coi là cản trở hoạt động tố tụng.
Câu hỏi thường gặp
Hội thẩm nhân dân có phải là người tiến hành tố tụng không?
Có. Hội thẩm nhân dân là người tiến hành tố tụng, tham gia hội đồng xét xử sơ thẩm và ngang quyền với thẩm phán khi xét xử, biểu quyết. Vì vậy hội thẩm cũng phải từ chối hoặc bị thay đổi khi thuộc các trường hợp luật quy định.
Luật sư của đương sự có phải người tham gia tố tụng không?
Có. Luật sư tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, hoặc với tư cách người đại diện theo uỷ quyền nếu được uỷ quyền. Hai tư cách này có phạm vi quyền khác nhau, nên cần ghi rõ khi đăng ký với toà.
Người làm chứng có bắt buộc phải đến toà không?
Người làm chứng được triệu tập hợp lệ có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập. Nếu cố ý vắng mặt không có lý do chính đáng và việc vắng mặt gây trở ngại cho việc xét xử, toà có thể ra quyết định dẫn giải. Người làm chứng có quyền được thanh toán chi phí đi lại theo quy định.
Đương sự có được yêu cầu thay đổi người giám định không?
Có. Người giám định phải từ chối hoặc có thể bị thay đổi khi họ đồng thời là đương sự, người thân thích của đương sự, đã tham gia vụ việc với tư cách khác, hoặc có căn cứ cho rằng họ có thể không vô tư. Người phiên dịch cũng tương tự.
Thư ký toà án có quyền quyết định gì trong vụ án không?
Thư ký toà án là người tiến hành tố tụng nhưng không quyết định nội dung vụ án. Việc chính là ghi biên bản, kiểm tra người tham gia, phổ biến nội quy. Biên bản thư ký ghi lại là tài liệu quan trọng, nên đương sự cần đọc kỹ trước khi ký.
Một người vừa là người làm chứng vừa là đương sự được không?
Về nguyên tắc là không trong cùng một vụ. Đương sự có quyền lợi gắn với kết quả vụ án nên lời trình bày của họ là lời khai của đương sự, không phải lời làm chứng. Người đã tham gia với tư cách làm chứng cũng không được làm người tiến hành tố tụng trong vụ đó.